Lời mở đầu trong thỏa thuận có nêu rằng “mục tiêu cuối cùng của Ba Lan là trở thành thành viên của Cộng đồng và hiệp hội.” [Nowak và cộng sự, 2016, tr. Với mục tiêu đó, có thé thay, sau khi bắt đầu bước vào công cuộc “thay da đổi thịt, Ba Lan mong chờ được trở về châu Âu Cộng đồng, mong muốn hội nhập sâu rộng nham đạt được các lợi ích về kinh tế, đảm bảo nền an ninh quốc gia trước những quốc gia Hậu Xô viết, và hơn hết là tăng cường vị thế, uy tín đối với khu vực Trung Đông Âu. Về phía EU, việc mở rộng quan hệ về kinh tế, chính trị với Ba Lan là một sự thay đôi lớn trong chính sách và chiến lược đối ngoại. Sự tính toán được hơn về mặt lợi ích an ninh chính trị nếu như Ba Lan trở thành hàng rào bảo vệ EU từ vòng ngoài trước sự ảnh hưởng của Nga và các quốc gia phén dau Hậu Xô viết.
Đây chính là điểm mau chốt thúc đây chính sách của EU đối với Ba Lan ngày một gần nhau hơn, tạo điều kiện đưa đối phương thực hiện hóa mong muốn hội nhập. Xuất phát từ bối cảnh và nguyện vọng của hai chủ thé, đặc điểm chính trong quan hệ từ sau năm 1989 đến trước năm 2004 là những nỗ lực trợ giúp lẫn nhau, một bên EU xây dựng một chiến lược dam phán, hỗ trợ hội nhập công phu, tập trung nhiều nguồn lực đưa Ba Lan nói riêng và các nước ứng viên đạt được các tiêu chí Copenhagen về chính trị, kinh tế, rút ngắn thời gian cải tô, chuyển đồi; một bên chính thể Ba Lan phất ngọn cờ đầu trong công cuộc cải cách, nỗ lực đạt được các tiêu chí đó nhằm mục tiêu trở thành một thành viên trong Cộng đồng. Hội nghị thượng đỉnh Copenhagen năm 1993 đưa ra những tuyên bố lịch sử về việc kết nạp thành viên mới ở Trung và Đông Au sau khi đạt được tiêu chuẩn về mặt chính trị như ồn định thé 14 chế, đảm bảo dân chủ, tuân thủ pháp luật, quyền con người, tôn trọng và bảo vệ các nhóm tiêu số, có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của các nước thành viên, tuân thủ các mục tiêu của Liên minh trong lĩnh vực chính trị [Nguyễn Quang Thuan & Nguyễn An Hà, 2005, tr. Các tiêu chuẩn về mặt chính trị là điều kiện tiên quyết mở ra các vòng đàm phán đối với các nước ứng viên.
Sau khi các tiêu chí Copenhagen đề ra, Ba Lan là nước thứ hai sau Hungary’ đệ đơn xin gia nhập EU vào ngày 5 — 4 — 1994 [Tyrpenou, 2017, tr. Vào tháng 12 năm 1995 tại Madrid, Hội đồng yêu cầu Ủy ban châu Âu xúc tiễn chuẩn bị các ý kiến về việc nộp đơn của các nước, bao gồm Ba Lan. Ủy ban châu Âu đã chuẩn bị một bảng câu hỏi hơn 200 câu liên quan đến 23 lĩnh vực thuộc các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội [Nowak và cộng sự, 2016, tr. Sau khi hoàn thành bộ câu hỏi do Ủy ban đề ra, Ba Lan được tham gia vào các cuộc dam phan cùng Cộng hòa Séc, Sip, Estonia, Slovakia, Hungary.
Cuộc đàm phán gia nhập chính thức được mở ra vào ngày 31 tháng 3 năm 1998 gồm6 nước, trong đó có Ba Lan [Tyrpenou, 2017, tr. Giai đoạn đầu tiên của đàm phán được gọi là “sàng lọc” (screening), hay nói một cách khác, tổng quan luật pháp của Ba Lan với mức độ tuân thủ luật pháp EU. Giai đoạn đầu tiên của quá trình sàng lọc là đa phương - tat cả các quốc gia trong nhóm Luxemburg tham gia. Hai tuần trước khi diễn ra cuộc gap, Ba Lan nhận hai danh sách các hành vi pháp lí tạo thành một phan của acquis.
Danh sách A bao gồm các luật được áp dụng chung, tùy thuộc vào tuyên bồ trong giai đoạn song phương. Danh sách B là các văn bản phi lập pháp, điều này rất quan trọng đối với việc giải trình nguyên tắc cơ quan luật. Sau khi sàng lọc, Ba Lan chuẩn bị những quan điểm đàm phán với sự chấp thuận của Ủy ban Hội nhập châu Âu (CEI) và chính phủ. Giai đoạn thứ hai được đàm phán thực tế diễn ra vào ngày 10 tháng 11 năm 1998.
31 chương thuộc các lĩnh vực của acquis* được xem xét. Nguyên tắc chủ đạo của đàm phán là “có sự phân biệt dựa trên cơ sở kết quả đạt được của từng nước” [Nguyén Quang Thuan & Nguyễn An Hà, 2005, tr. ? So với 10 nước Trung và Đông Âu đệ đơn xin gia nhập vào EU. 3 Xem các chương ở Phụ lục 1.
4 Acquis communautaire được xem là toàn bộ luật pháp (gồm cả các phán quyết của Tòaán Công lý) và thực tiễn chính trị được xác lập tại EU. Đây là quyền và nghĩa vụ ràng buộc tất cả các thành viên EU. Trước khi gia nhập EU, bất kỳ thành viên mới nao cũng phải chấp thuận toàn bộ các luật này. 15 Nghĩa là lộ trình đàm phán của từng nước phụ thuộc vào mức độ chuẩn bị của ứng viên và tính chất phức tạp của vấn đề cần giải quyết.
Mỗi nước ứng viên sẽ được đánh giá trên kết quả đã đạt được. Trải qua các vòng đàm phán lớn nhỏ, đàm phán gia nhập được kết thúc vào 13 tháng 12 năm 2002 tại Hội nghị thượng đỉnh Hội đồng châu Âu. Ngày 9 tháng 4 năm 2003, Nghị viện châu Âu đã thông qua Nghị quyết về việc Ba Lan gia nhập EU (509 phiếu ủng hộ, 25 phiếu phản đối và 31 phiếu trắng). Hiệp ước gia nhập được ký vào ngày 16 tháng 4 năm 2003 tai Athens [Nowak và cộng sự, 2016, tr.
Kê từ ngày kí Hiệp ước đến khi có Hiệp ước có hiệu lực, Ba Lan với tư cách quan sát viên tích cực tham gia trong các phiên họp của Hội đồng châu Âu. Sau cuộc trưng cầu dân ý toàn dân tháng 6 năm 2003, Ba Lan được sự ủng hộ tích cực của người dân đối với việc gia nhập EU. Ngày 1 tháng 5 năm 2004, Ba Lan chính thức trở thành thành viên của ngôi nhà EU. Đây là một cột mốc mới trong quá trình phát triển và hội nhập của Ba Lan, tạo ra những làn sóng đột phá trên mọi phương diện.
Nhìn chung, xét về mặt chính trị giữa Ba Lan và EU trước năm 2004 được chia thành hai giai đoạn, hai đặc điểm rõ rệt. Trước năm 1988, 1989 do bối cảnh khách quan và chủ quan của sự đối đầu hai cực, hai phe. sự khác biệt chế độ chính trị giữa Đông Âu và Tây Âu đã tạo nên một vách ngăn rất lớn cho quan hệ Ba Lan và EU. Đối lập giai đoạn trước đó, khi chế độ cộng sản Ba Lan sụp đô, một giai đoạn mới mở ra cho quan hệ hai bên - giai đoạn 1989 đến 2004 đã thê hiện rõ rệt quá trình hội nhập, những nỗ lực của cả hai trong tiến trình gia nhập thé chế khu vực.12 Quan hệ kinh tế Sau khi chính quyền cộng sản sụp đồ, một cuộc cải cách chuyên đổi mô hình kinh tế — chính trị đã diễn ra.
Ba Lan là một trong hai nước đầu tiên tiến hành chuyền quyền sở hữu và tiến tới xóa bỏ hình thức sở hữu độc quyền của nhà nước. Trên thực tế, tình hình kinh tế của Ba Lan vào năm 1989 không mấy khả quan hay thậm chí theo Marie Lavigne đánh giá là một thảm họa [Lavigne, 2002, tr. Cuối năm 1989, một học thuyết chính thống có tên gọi “Học thuyết liệu pháp sốc” (shock therapy)Š ra 5 Liệu pháp sốc có tên chính thức là Kế hoạch Balcerowicz, được đặt theo tên của Bộ trưởng tài chính Leszek Balcerowicz. Trong kê hoạch, 10 đạo luật được Tông thông kí và thông qua vào ngày 31 tháng 12 năm 1989: (1) Đạo luật về kinh tê tài chính trong các công ty nhà nước (2) Đạo luật ngân hàng (3) Đạo luật tín dụng (4) 16 đời.
Mục tiêu cơ bản của học thuyết này là phá bỏ triệt để hệ thống phân phối tập trung mệnh lệnh chuyên sang nén kinh té thi trường, mo cửa, hội nhập với nên kinh tế thế giới. Với mục tiêu đó, ngay từ khi bat đầu công cuộc chuyên đôi, Ba Lan nhanh chóng tăng cường hợp tác kinh tế thương mại với EC. Điều mà trước đây dường như không thé xảy ra khi chính quyền cũ còn năm quyền lãnh đạo. Vào tháng 7 năm 1989, trong Hội nghị thượng đỉnh G75 đã quyết định trao cho Ủy ban Cộng đồng chung châu Au quyền điều phối hỗ trợ cho Ba Lan va Hungary, [.] mục đích nhằm tăng cường, dốc lòng dốc sức của hai nước vào xây dựng dân chủ và kinh tế thị trường [Lavigne, 2002, tr.
EC đã dỡ bỏ hạn ngạch áp dụng cho một số hàng hóa, mở rộng Hệ thống ưu đãi thuế quan chung/phé cap (GSP) và ký một sỐ Hiệp định hợp tác thương mại và kinh tế với Ba Lan vào tháng 9 năm 1989 [Nguyễn Quang Thuần & Nguyễn An Hà, 2005, tr. Hiệp định bao gồm một số nhượng bộ và các điều khoản tiễn đến tự do hóa thương mại và thúc đây kinh tế phù hợp với Hiệp định chung về thuế quan và mau dịch (GATT). Nhờ vào Hiệp định thương mại, tổng kim ngạch xuất khâu vào EC đã tang 53% kế từ năm 1988 lên hơn 5,1 tỷ ECU vào năm 1990. Nhập khâu từ Cộng đồng tăng 59% từ năm 1988 đến 1990 lên 4,4 tỷ ECU [European Commission, 1992].
Trong chín tháng đầu năm 1991, xuất khẩu sang Cộng đồng tiếp tục tăng 25%, trong khi nhập khâu tăng gấp đôi. Các mặt hàng nhập khâu lớn nhất từ Cộng đồng sang Ba Lan là máy móc, thiết bị điện, thiết bị vận tải, nông sản và sản phẩm hóa chất. Xuất khâu chủ yếu là kim loại cơ bản; nông san, hàng dét may. Vào ngày 16 tháng 12 năm 1991, Ba Lan đã kí Hiệp định với Châu Âu Cộng đồng (Europe Agreement)’, chủ yếu nhằm tự do hóa thương mại thay thé cho Hiệp định thương mại (1989).
Trong Hiệp định thương mại được kí kết, các điều khoản tự do hang hóa gồm các van đề liên quan đến sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, thủy Đạo luật về việc đánh thuế tăng lương quá mức (5) Đạo luật quy tắc thuế mới (6) Đạo luật về hoạt động kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (7) Đạo luật về ngoại tệ (8) Luật hải quan (9) Đạo luật về việc làm (10) Đạo luật bảo trợ người lao động. © Nhóm 7 nước công nghiệp hang đầu thế giới: Canada, Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản. 7EA có hiệu lực vào ngày | tháng 2 năm 1994. 17 sản và các điều khoản chung.
Hiệp định quy định khác nhau đối với các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp.