Chương 1 Tông quan môi trường sao, truyền bức xạ trong thiên văn và cầu trúc vO sao gia 1.1 Sự hình thành và phát triển của sao Cho đến nay, sự phát triển trong kỹ thuật quan sát đã giúp chúng ta nhìn xa hơn, chi tiết hơn về cấu trúc của sao. Dựa vào những đặc trưng về độ sáng và nhiệt độ, chúng ta đã có thể phân loại từng ngôi sao trên giản đồ Hertzsprung-Russell (HR).1 là giản đồ HR biểu diễn mỗi ngôi sao như một điểm tương ứng với trục tung là độ chói, trục hoành là nhiệt độ hiệu dụng bề mặt. Dải chính của giản đồ là tập hợp những ngôi sao chạy từ góc phải bên dưới lên góc trái phía trên. Hầu hết các ngôi sao được quan sát nằm trên dải chính, tương ứng với giai đoạn phát triển ổn định.
Các giai đoạn phát triển tiếp theo, ngôi sao có thể nằm ở các vị trí sao khổng lồ, siêu khổng lồ hay sao lùn trắng trên giản đồ HR phụ thuộc vào nhiệt độ hiệu dụng và độ chói của nó. Chúng ta có thể phân quá trình hình thành và phát triển của sao thành ba giai đoạn chính: giai đoạn mới hình thành gọi là sao trẻ, tiếp theo là thời kì ổn định (những ngôi sao giai đoạn này nằm trên dãy chính giản đồ HR) và giai đoạn sau gọi là sao già. Những ngôi sao được hình thành từ các tĩnh vân là các đấm mây khí khong lồ. Một đám mây khí và bụi được giữ ở trạng thái cân bằng khí tĩnh khi động năng của khí cân bằng với thế năng hấp dẫn nội tại.
Nếu một đám mây khí là đủ nặng sao cho áp suất khí không đủ để giữ cân bằng với hấp dẫn thì nó sẽ trải qua quá trình co sụp hấp dẫn. Kết quả quá trình co sụp này, các ngôi sao mới được hình thành tạo ra các cụm sao bên trong lõi đấm mây khí.1: Giản đồ Hertzsprung-Russell (tạo bởi Richard Powell, nguén: en. org/wiki/ Hertzsprung-Russell_diagram).2 mô tả lại quá trình phát triển những ngôi sao. Sự phát triển của chúng phụ thuộc vào khối lượng bồi tụ ban đầu khi đang còn trong giai đoạn tiền sao [54].1 7 Sao trẻ Ngôi sao trong giai đoạn đầu của sự phát triển được gọi là sao trẻ.
Những ngôi sao trẻ vẫn tiếp tục được bồi tụ vật chất từ đám mây phân tử để tăng dần khối lượng. Khi quá trình bồi tụ diễn ra, khí và bụi tạo ra một đĩa vật chất phẳng quanh ngôi sao, đồng thời hình thành gió sao phát ra từ hai cực. Do đó, đặc tính của vỏ một ngôi sao trẻ là luôn tồn tại đĩa sao quay quanh ngôi sao trung tâm và gió sao lưỡng cực. Đĩa sao đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành sao.
Trong giai đoạn tiền sao, toàn bộ hệ đĩa sao nằm trong một lớp vỏ khí và bụi chuyển động hướng vào tâm. Hầu hết bức xạ từ đĩa sao bên trong đều bị lớp bụi dày hấp thụ và phát lại ở bước sóng trong dải hồng ngoại xa. Do đó, rất khó để quan sát trực tiếp các đĩa sao này.3 là tập hợp ảnh những ngôi sao trẻ được quan sát bởi Kính thiên văn VLUI của ESO. Gió sao xuất hiện ở vỏ sao trẻ có vận tốc từ một vài đến một nghìn kưn.
Gió sao vận tốc thấp được quan sát thấy quanh những ngôi sao lùn nâu như GM Tau [45]. Dunham va cdc đồng nghiệp đã quan sát thấy gió lưỡng cực với vận tốc ~ 2.s~! từ vật thể có độ chói thấp Per-Bolo 58 [16]. Gió sao từ các sao trẻ lớp 0 có kích thước nhỏ hơn 1 pc gây ra tỉ lệ mất mát khối lượng as ae `." : d — BF : ma ` seme Main Sequence Star Meer) ye ee | CKO ee 2 OR. ea Star ea ".2: Vòng đời của những ngôi sao (tạo bởi Matt Cameron, nguồn: sciencezones.
php/2020/06/08/the-1ife-cycle-of-a-star/).3: Đĩa bụi xung quanh những ngôi sao trẻ (ESO, nguồn: www.org/public/images/ eso1811a/).yr7! véi thành phần phân tử là CO, HạO, OH và S¡O. Vận tốc của loại gió sao này có độ lớn từ 50 - 150 km. Hiện tượng gió sao trong giai đoạn phát triển đầu có thể là hệ quả của quá trình bồi tụ. Cơ chế gió giúp giảm momen xung lượng của vật chất trên đĩa bồi tụ và điều tiết tốc độ quay của ngôi sao, giúp cho ngôi sao tiếp tục phát triển mà không tăng tốc độ quay quanh trục.
Các mô hình từ khí động lực học (MHD) nhận thấy gió sao giải phóng momen xung lượng cùng với 10 - 30 % khối lượng của đĩa. TỶ lệ mất mát này phù hợp với vận tốc gió sao được quan sát.2 Sao tiệm cận không lỗ (AGB) Những ngôi sao có khối lượng trung bình hoặc nhỏ (< 8M@) sẽ có giai đoạn phát triển thành những ngôi sao khổng lồ đỏ hay những sao AGB. Những ngôi sao này sẽ đốt cháy lõi H trong khoảng thời gian vài tỉ năm. Khi H gần cạn kiệt, áp suất bên trong không đủ để thắng lực hấp dẫn dẫn đến sự co lại của lõi.
Sự co lại này làm tăng nhiệt độ của lõi đồng thời tạo ra áp suất đây lớp vỏ ngoài tới bán kính gấp hàng trăm lần. Ngôi sao trong pha này được gọi là sao khống lồ đỏ (RGB). Nhiệt độ trong lõi ngày càng tăng cho đến khi lượng nhiệt đủ để đốt cháy He. Khi toàn bộ He trong lõi bị đốt cháy, lõi lại tiếp tục co sup hap dan, lớp vỏ ngoài được mở rộng và nhiệt độ giảm, ngôi sao tiến tới pha AGB.
Pha AGB được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu (E-AGB) và giai đoạn xung nhiệt (TP-AGB). Trong suốt pha E-AGB, nguồn năng lượng chính tạo ra từ phản ứng đốt cháy He trong lớp vỏ quanh lõi. Sau khi đốt cháy hết He, ngôi sao bắt đầu pha TP-AGB. Lúc này, năng lượng của ngôi sao được tạo ra từ đốt cháy H trong một lớp rất mỏng bên ngoài lớp He.
Tuy nhiên, với chu kỳ khoảng 10000 - 100000 năm, He từ phản ứng đốt cháy H được tích lũy và bùng cháy tạo ra các xung nhiệt. Độ chói tạo ra bởi các xung này có thể gấp hàng nghìn lần độ chói của toàn bộ ngôi sao nhưng giảm nhanh trong vài năm. Những xung này làm cho ngôi sao nở ra và lạnh đi ngăn phẩn ứng đốt cháy H xảy ra, đồng thời gây ra đối lưu mạnh trong lớp này. Phản ứng đốt cháy He làm cho nhiệt độ tăng trở lại dẫn đến đốt cháy H, một chu kỳ xung mới được lặp lại.
Quá trình xung nhiệt đã tạo ra đối lưu mạnh, do đó, các nguyên tố từ lõi có thể di chuyển tới bề mặt sao. Ở đây, các phản ứng bắt neutron chậm (quá trình s) diễn ra dẫn tới hình thành các nguyên tố nặng. Xung nhiệt cũng làm tăng sự mất mát khối lượng, đầy một lượng lớn các nguyên tố nặng ra không gian. Người ta ước lượng, ngôi sao mất khoảng 50 - 70 % khối lượng trong pha, AGB [21].
C-O core He-burning shell He layer H-burning shell Radiative layer Convective H envelope Hình 1.4: Cấu tric nhiéu lép cia sao AGB (NOAO, nguén: www.edu/outreach/press/pr03/ sb0307. Tỉ lệ mất mát khối lượng tăng lên trong giai đoạn này dẫn tới sự mở rộng nhanh chóng của lớp vỏ. Lớp vỏ ngoài lạnh đi, vật chất có thể liên kết để tạo ra những hạt bụi có kích thước lớn hơn. Những hạt bụi này chịu áp suất bức xạ mạnh từ ngôi sao bị đẩy ra ngoài kéo theo cả các phân tử khí hình thành gió sao.
Cơ chế hình thành gió sao trong giai đoạn này có thể do áp suất bức xạ hoặc do cơ chế lái của từ trường. Những nghiên cứu về maser đã cho thấy sự tồn tại của từ trường rộng quanh các sao AGB. Quan sát từ đài thiên văn VLBI đã giúp xây dựng lại cấu trúc từ trường xung quanh ngôi sao biến quang TX Cam qua bức xạ 5O [40]. Cấu trúc phổ và tính phân cực của maser OH từ R Crt khang dinh ti trường gây ra các bất đối xứng trong phổ và sự phân cực tròn của maser OH trong một số sao AGB cho chúng ta bằng chứng từ trường trong gió sao [52].
Bằng chứng gián tiếp cho sự ảnh hưởng của từ trường lên gió sao AGB là sự tồn tại các cung hình bán nguyệt trong các vỏ sao, nó có thể là kết quả của các vòng từ hoạt động [64]. Ở lớp ngoài của khí quyền sao, nhiệt độ giảm tạo điều kiện cho các phân tử khí kết hợp với nhau trở thành các phân tử phức tạp hơn. Trong không gian này, có một xác suất nhỏ để các phân tử lớn hơn tiếp tục tập hợp lại thành các cụm phân tử. Ban đầu, quá trình này diễn ra ngẫu nhiên phụ thuộc vào các điều kiện nhiệt động học.
Nhưng khi đạt đến một kích cỡ nào đó, các cụm phân tử có khả năng tập hợp được nhiều nguyên tử hay phân tử nhỏ hơn để tạo ra hạt bụi với tính chất quang học thay đổi so với các phân tử hay nguyên tử đơn lẻ. Với khả năng tán xạ và hấp thụ mạnh bức xạ, vùng mây bụi xung quanh sao AGB ngăn cản việc quan sát trong vùng tử ngoại và khả kiến, chỉ để lại cửa số vùng hồng ngoại và vô tuyến có khả năng quan sát [21].2 Quan sat vo sao Sự phát triển kỹ thuật quan sát thiên văn giúp chúng ta quan sát được cấu trúc của vỏ sao. Kính thiên văn không gian Hubble (HST) trở thành biểu tượng tiên phong trong khám phá vũ trụ. Những bức ảnh trong miền khả kiến của HST đã tiết lộ chi tiết của từng vỏ sao mà trước đây chúng ta không thể quan sát.5 là hai bức ảnh chụp bởi HET của hai ngôi sao ở các giai đoạn phát triển khác nhau.
Ảnh trái là ngôi sao trẻ V1331 Cyg hướng một cực về phía Trái Dất có vỏ sao là một đĩa bụi dày. Ảnh phải là tinh vân NGC 6826 có hình dạng như một con mắt với con ngươi là ngôi sao trung tâm.5: Cấu trúc vỏ sao chụp bởi HST: hình trái là ngôi sao trẻ V1331 Cyg (Nguồn: en. org/wiki/V1331_Cygni); hình phải là tỉnh vân tiền hành tỉnh NGC 6826 ( Nguồn: esahubble.org/ images/opo97384/). Những bức ảnh vùng khả kiến chủ yếu cho chúng ta nhìn thấy cấu trúc tổng quan của vỏ sao mà nhiều khi bị che khuất bởi lớp bụi dày.
Để nghiên cứu động học và tính chất vật lý của vỏ sao, các nhà thiên văn thường sử dụng bức xạ nguyên tử và phân tử khí tồn tại trong môi trường này. Những bức xạ nguyên tử và phân tử trong miền vô tuyến có thể đi qua lớp bụi dày của vỏ sao đồng thời đâm xuyên qua tầng khí quyền của Trái Đất.