CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trong chương này, luận án giới thiệu về mạng xã hội, mô hình hóa SN, tổng quan về các bài toán lan truyền thông tin cũng như các khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận án, phân tích và đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến các bài toán của luận án. Đây là những kiến thức tổng quan, mang tính nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo của luận án.1 Giới thiệu về mạng xã hội Khái niệm mạng xã hội lần đầu được đề cập từ năm 1954 [31]. Sau đó với sự ra đời và phát triển của công nghệ thông tin, mạng máy tính và công nghệ Web đã dẫn tới sự hình thành các mạng xã hội như Facebook và Flickr năm 2004, YouTube năm 2005, Twitter năm 2006, Sina Micro-blog năm 2009 và Google+ năm 2011, vv. Ngày nay thế giới đã chứng kiến hàng trăm nghìn mạng xã hội lớn, nhỏ ra đời.
Nhờ có mạng xã hội mà con người đã thay đổi cách thức tiếp cận thông tin. Người sử dụng trên mạng xã hội (gọi tắt là người dùng) có thể trao đổi thông tin, giao tiếp với nhau không kể thời gian, không gian và khoảng cách địa lý. Họ có thể chia sẻ thông tin, quan điểm, ý kiến, hoặc chia sẻ các bài viết, ảnh, video của người khác vv. Đặc tính này giúp cho các thông tin được lan truyền nhanh chóng trên SN và nội dung của thông tin ngày càng đa dạng và phong phú.
Bên cạnh đó, mạng xã hội còn là nền tảng cho phép phát triển các ứng dụng, người dùng có thể tiến hành nhiều tiện ích khác do SN cung cấp. Cùng với sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội hiện nay, ngày càng có nhiều SN ra đời để khai thác nhiều khía cạnh khác nhau đáp ứng toàn diện nhu cầu của người dùng. Chính vì sự tiện ích này mà số lượng người dùng SN đang ngày càng tăng lên. Với số lượng người dùng lớn trên toàn thế giới, SN đã và đang có những tác động không nhỏ đến thế 18 giới thực trên nhiều lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, xã hội, vv… Trong đó có cả những tác động tích cực và tiêu cực.
Vì vậy có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu sâu về mạng xã hội, từ đó tìm ra những giải pháp nhằm phát huy thế mạnh và hạn chế những tác động không mong muốn của SN, để mạng xã hội ngày càng trở nên hữu ích và đáng tin cậy hơn với người dùng. Mỗi mạng xã hội đều có mục đích, cấu trúc và tính chất riêng, nhưng hầu hết các mạng đều được cấu thành bởi các thành phần cơ bản như: Người dùng, liên kết, thông tin và tương tác của người dùng đối với thông tin.1 Các thành phần cơ bản của mạng xã hội - Người dùng: Mỗi người dùng là một thực thể trên SN, thực thể này có thể là cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức nào đó, gọi chung là người dùng hay dân cư mạng. Ví dụ đối với Facebook người dùng có thể là một tài khoản cá nhân hoặc một nhóm có cùng sở thích (group) hoặc một trang người hâm mộ (fanpage), vv… - Liên kết: Trong một SN liên kết thể hiện mối quan hệ và sự ảnh hưởng giữa những người dùng. Khái niệm liên kết trong mỗi SN là khác nhau.
Ví dụ, với Facebook, Zalo thì liên kết tương ứng với quan hệ bạn bè, với Instagram liên kết tương ứng với chức năng “theo dõi”, còn với Tiktok liên kết tương ứng với “follow”, vv… - Thông tin: Trên mạng xã hội người dùng tự tạo nội dung thông tin và chia sẻ thông tin đến các thành viên khác theo các hình thức khác nhau. Thông tin trên SN có thể là: bài viết, hình ảnh, âm thanh, video, đoạn tin ngắn (blog), vv. có nội dung thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: bài viết về chủ đề thể thao, giải trí, âm nhạc hoặc bài viết về chủ đề kinh tế, chính trị, vv. - Tương tác: Thể hiện sự tương tác giữa những người dùng trên SN tạo ra mối quan hệ qua lại và hiểu biết lẫn nhau.
Khái niệm “tương tác” được hiểu là sự phản hồi của người dùng đối với các thông tin của người dùng khác 19 lan truyền trên mạng xã hội, điều này được thể hiện thông qua việc: chia sẻ, đăng bài, theo dõi, bình luận, vv… 1.2 Một số đặc trưng chung của mạng xã hội - Đặc trưng thế giới nhỏ: Trong một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đối với các mạng xã hội lớn khoảng cách trung bình kết nối giữa hai người dùng nhỏ hơn 6. Đây được coi là đặc trưng thế giới nhỏ của SN [32], [33]. Với đặc trưng thế giới nhỏ, thông tin dễ dàng lan truyền giữa những người dùng nhờ tính kết nối nhanh chóng. - Đặc trưng tập nhân: Căn cứ vào cấu trúc và sự vận động của mọi mạng xã hội đều chịu sự ảnh hưởng của một số người dùng quan trọng (người có chức sắc, địa vị hay người nổi tiếng, vv.
Những người dùng này có bậc cao, được gọi là nút trung tâm hay nút nhân [34], “bậc” ở đây là số nút khác có liên kết với người dùng đó. Các SN luôn chứa một lượng lớn những nút có bậc cao, bao quanh các nút này là các nút có bậc thấp hơn và quanh những nút có bậc thấp hơn lại là các nút có bậc thấp hơn nữa, cứ như vậy tạo thành một hệ thống phân cấp. Các nút nhân đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối luồng thông tin trong SN. Trong mạng xã hội nếu loại bỏ một nút thuộc tập nhân ra khỏi mạng thì sẽ phân chia mạng thành các nhóm cô lập và khi một nút mới thêm vào mạng thường có xu hướng kết nối đến những nút có bậc cao.
Điều này lý giải tại sao người nổi tiếng thường được mời làm quảng cáo và người nổi tiếng cũng có thể bị lợi dụng để lan truyền thông tin sai lệch, vv… - Đặc trưng cấu trúc cộng đồng: Tương tự như trong xã hội thực trong SN luôn tồn tại các nhóm hoạt động khác nhau như: nhóm bạn bè có cùng sở thích, nhóm các nhà khoa học cùng nghiên cứu về một lĩnh vực, các câu lạc bộ thích văn hóa, thể thao, vv… Các nhóm này gọi là các cộng đồng trực tuyến. Trong mạng xã hội được phân chia thành các cộng đồng lớn nhỏ khác nhau, bên trong các cộng lớn có những cộng đồng con nhỏ hơn. Trong một cộng đồng các nút có mật độ kết nối lớn hơn so với các nút bên ngoài cộng 20 đồng. Một người dùng có thể tham gia một hoặc nhiều cộng đồng khác nhau hoặc không thuộc cộng đồng nào.
Như vậy trong mỗi mạng xã hội tồn tại hai loại cấu trúc cộng đồng là: cộng đồng chồng chéo và cộng đồng tách rời. Việc nghiên cứu tính chất cấu trúc cộng đồng trong SN có nhiều ứng dụng trong khoa học và thực tiễn. - Đặc trưng phân bố lũy thừa: Phân bố bậc của các nút trong mạng được mô tả bởi hàm �(�), hàm này xác định xác suất của một nút có bậc là �. Phân bố bậc của một mạng theo lũy thừa nếu xác suất một nút có bậc là � 1 được xác định là � � = �� , với 2 < � < 3.
Hiện nay, hầu hết các mạng xã hội đều có phân bố bậc lũy thừa [35].3 Lợi ích của mạng xã hội Các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng xã hội tận dụng tối đa các tính năng của SN để mang lại nhiều nhất lợi ích cho người dùng, góp phần đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu. Ứng dụng kinh doanh. Các mạng xã hội ngày nay đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các công ty, doanh nghiệp. Các hoạt động quảng cáo sản phẩm, lấy ý kiến phản hồi của người dùng, giao dịch với khách hàng, đối tác, vv.
đều có thể thực hiện dễ dàng và thuận lợi trên các tiện ích của SN. Trong các hoạt động này, hoạt động quảng cáo sản phẩm thông qua các dịch vụ trên SN đang đạt được nhiều thành công và thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Vì vậy, thông tin và các tính năng của sản phẩm được quảng bá nhanh chóng và toàn diện đến người dùng mạng xã hội. Tìm kiếm mối quan hệ.
Trong thời đại ngày nay con người có ít thời gian dành cho bản thân và mở rộng các mối quan hệ mới. Sử dụng các dịch vụ trên SN, người dùng có thể tìm kiếm các mối quan hệ mình quan tâm cũng như duy trì các mối quan hệ đã có. Người dùng chỉ cần sử dụng các dịch vụ trên SN để giữ mối liên lạc với người thân, bạn bè và đồng nghiệp của họ. Họ 21 có thể trò chuyện, trao đổi thông tin, tương tác với nhau trên SN thay cho gặp nhau trực tiếp.
Đặc biệt trong đại dịch Covid-19 vừa qua, các mối quan hệ trên mạng xã hội càng trở nên thuận tiện và hữu ích hơn khi mọi người bị hạn chế tiếp xúc trực tiếp với nhau. Ứng dụng đối với các hoạt động của tổ chức, chính phủ. Các mạng xã hội ngày nay đã mang lại nhiều lợi ích trong các hoạt động chính trị và xã hội. Chẳng hạn như trong cuộc cách mạng ở Ai Cập năm 2011, các mạng Twitter và Facebook đã đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các cá nhân và nhóm nổi dậy.
Các nhóm hoạt động ở Ai Cập đã đưa kế hoạch hoạt động cho nhóm người của họ trên các mạng này, đưa ra các bằng chứng cho cộng đồng về sự tàn bạo của chính phủ qua các ảnh và video. Ngoài ra, trên các SN còn cho phép chính phủ giám sát ý kiến của người dân trong các hoạt động văn hóa, chính trị hoặc các hiệu ứng xã hội khác. Ứng dụng trong giáo dục và học tập trực tuyến. Mạng xã hội ngày nay có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục và học tập trực tuyến.
Các nền tảng mạng xã hội cho phép các giáo viên và học sinh chia sẻ thông tin, tài liệu, video học tập và tương tác với nhau trong môi trường giảng dạy và học tập trực tuyến. Truyền thông và phát thanh trực tuyến. Mạng xã hội đã trở thành công cụ hữu ích để truyền thông và phát thanh trực tuyến. Các nền tảng SN cho phép các tổ chức truyền thông và phát thanh quảng cáo các chương trình, tin tức, sự kiện và các nội dung khác cho khán giả của mình.4 Mặt trái của mạng xã hội Phát tán virus, mã độc.
Mạng xã hội là môi trường rất thuận lợi cho sự phát tán virus, mã độc.