phần mở đầu, 3 chương chính văn, kết luận và kiến nghị. Cấu trúc luận văn gồm 51 trang chính văn, 20 hình vẽ, đồ thị, 5 bảng biểu và 53 nguồn tài liệu tham khảo. Phƣơng pháp phytoremediation Thuật ngữ phytoremediation bắt nguồn từ sự kết hợp của 2 từ: phyto và remediation. Về cơ bản, quá trình xử lí được thực hiện thông qua đặc tính sinh lí của thực vật về hấp thụ và tích trữ các kim loại từ đất và nước trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây.
Phương pháp này đã được áp dụng trong khoảng 300 năm qua để loại bỏ chất gây ô nhiễm từ nước thải. Tuy nhiên, khái niệm sử dụng khả năng tích trữ kim loại của thực vật để loại bỏ chất gây ô nhiễm chỉ mới được đề cập bởi Chaney vào năm 1983 [5]. Phytoremediation là phương pháp loại bỏ kim loại nặng ô nhiễm từ đất và nước thân thiện với môi trường và hệ sinh thái [5], [6]. Trong quá trình sinh trưởng của mình, cây sẽ hấp thụ các chất trong môi trường đất và nước thông qua bộ rễ.
Thông qua đó, một số thực vật xác định tiết ra các hợp chất có khả năng cố định hoặc tách các chất độc hại bằng quá trình oxy hóa khử, quá trình kết tủa các hợp chất không hòa tan trong vùng rễ để chuyển các chất độc hại này thành các dạng tồn tại khác ít độc hơn [7]. Ví dụ, Plumbum kết tủa dưới dạng phosphate hoặc cadmium tạo phức với sulfide trong rễ, vùng rễ của cây Agrostis capillaris and Silene vulgaris [8]. Trong khi đó, một số cây lại phá vỡ các chất hữu cơ bằng các enzyme để chuyển hoá chúng thành các chất dinh dưỡng cho cây. Ví dụ như các nhà khoa học đã sử dụng cây Hybrid poplars để xử lí trichloroethylene (TCE).
Cây sẽ tiết ra các enzyme (ví dụ dehalogenase, peroxidase, nitroreductase, laccase, nitrilase) giúp phân hủy các chất như lignin,…[7]. Kim loại, đặc biệt các kim loại nặng và hợp chất của chúng được cây cố định bằng cách tạo phức hoặc thay đổi hoá trị của chúng và sau đó được tích trữ lại trong mô lá hay rễ. Trong quá trình này, tính chất của các kim loại cũng như đặc tính của thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả xử lí. Vì vậy để phát huy tối đa tiềm năng của phương pháp phytoremediation, chúng ta phải có nghiên cứu toàn diện về tính chất của các ion kim loại, đặc biệt là sự hấp thụ kim loại và sự vận chuyển của 5 nó qua màng tế bào thực vật cùng với việc lưu trữ, phân phối, độ nhạy, dung sai, chịu ảnh hưởng trực tiếp của các chất tiết ra từ rễ và các vi sinh vật trong các điều kiện môi trường khác nhau [9], [10].
Phương pháp phytoremediation được áp dụng cho các loài thực vật có tốc độ tăng trưởng nhanh và sinh khối cao [11]. Các loài thực vật này ngoài khả năng tích trữ các chất độc hại cao còn có khả năng chịu đựng cao đối với các điều kiện môi trường bất lợi. Qua các tài liệu đã được công bố có khoảng 500 loài thực vật có khả năng tích trữ kim loại [12]. Các loài này chủ yếu thuộc họ Brassicaceae, Asteraceae, Caryophyllaceae, họ thân thảo, họ đậu Cunouniaceae, Flacourtiaceae, Violaceae, Euphobiaceae, và họ Poaceae [12].
Trong đó, khoảng 18 loài được biết có khả năng tích trữ kim loại Zn như T. halleri (Zn, Cd), Thlaspi rotundifolium spp.1 Cơ chế tích trữ kim loại nặng bằng phương pháp phytoremediation Sự tích trữ kim loại nặng của thực vật bao gồm các giai đoạn cơ bản: + Vận chuyển kim loại qua màng sinh chất của tế bào rễ. + Sự vận chuyển kim loại nặng đi từ rễ đến chồi thông qua tải và di chuyển dọc các xylem. + Khử độc và cô lập toàn bộ kim loại trong cây và tế bào [14].
Khả năng tích lũy của mỗi kim loại được xác định dựa vào khả năng hấp thụ và vận chuyển nội bào của mỗi cây. Trong các quá trình này, các protein vận chuyển có liên quan như ATPase có vai trò giúp kim loại nặng được đưa lên và lưu trữ trong cây. Thực vật cũng tham gia vào quá trình giải độc bằng cách tiết ra các chelate tự nhiên như phytochelatins (PC) ở bộ rễ, các chất này kết hợp ion kim loại để cô lập toàn bộ kim loại (hình 1. Khi độ hòa tan của các kim loại tăng, kim loại được đưa đến rễ sau đó từ rễ được chuyển thành chồi bằng con đường apoplast và con đường symplast.
Từ các 6 chồi, các kim loại nặng được vận chuyển đến lá bằng cách tải xylem. Trong lá, kim loại nặng được lưu trữ trong không bào [15]. Con đường vô bào (apoplast): nước và các chất tan vận chuyển dọc theo các thành tế bào và khoảng gian bào. Con đường này cho phép nước, phần kim loại hòa tan di chuyển mà không đi vào các tế bào và thông qua thành tế bào và các không gian nội bào [16].
Con đường hợp bào (symplast): nước và các chất tan được vận chuyển liên tục từ bào tương của tế bào này sang bào tương của tế bào khác trong mô thực vật. Con đường này chỉ cần một lần đi qua màng sinh chất. Sau khi thâm nhập vào một tế bào, các chất có thể vận chuyển từ tế bào này đến tế bào khác thông qua cầu sinh chất [16]. Các ô ngăn tế bào và các con đường vẫn chuyển giữa các tế bào.
Cơ chế thực vật trải qua quá trình hấp thụ và lưu trữ kim loại nặng [17]. Tốc độ và mức độ hấp thụ kim loại của thực vật trong đất bị ảnh hưởng bởi hàm lượng kim loại, pH, hàm lượng nước, các chất hữu cơ và các yếu tố khác trong vùng rễ [16]. Ví dụ, một biến đổi nhỏ về nồng độ H+ có thể khiến cho một chất khoáng dễ hấp thụ, trong khi chất khoáng khác khó hấp thụ. Như pH = 8, cây có thể hấp thụ Ca, nhưng Fe hầu như hoàn toàn không được hấp thụ.
Khi pH hạ xuống 5 hoặc thấp hơn, các ion Al3+, Fe3+, Zn2+ trở nên dễ hoà tan hơn và được rễ hấp thụ, nhưng pH quá thấp ngăn cản sự sinh trưởng của rễ và cản trở sự hấp thụ Ca – chất dinh dưỡng cho thực vật. Các acid hữu cơ có trong vùng rễ như acid acetic, acid butyric, acid citric, acid fumaric, acid lactic, acid malic, acid malonic, acid oxalic, acid propionic, acid tartaric, và acid succinic. Các proton được tiết ra trong vùng rễ có tác dụng acid hóa các chất ở vùng rễ làm tăng sự hòa tan kim loại và tạo phức kết tủa với kim loại không tan trong vùng rễ để tăng khả năng tích trữ kim loại nặng và hấp thụ của rễ [8], [10]. Trong nghiên cứu Bernal và cộng sự nhận thấy rằng pH ảnh hưởng đến việc giải phóng proton và sự tích lũy kim loại Ni của thực vật (Alyssum murale) trong điều kiện nuôi cấy dung dịch.
Tuy nhiên, sự khác biệt dường như không đủ lớn để giải thích hoàn toàn quá trình acid hóa của vùng rễ và cải thiện sự hòa tan kim loại [18]. 8 Ngoài ra, các vi sinh vật đất đã được chứng minh là có khả năng tiết ra các hợp chất hữu cơ kích thích sinh khả dụng của kim loại tức là làm cho kim loại có thể hòa tan tạo điều kiện cho sự hấp thụ nhiều loại ion kim loại ở rễ của bao gồm Mn2+ và có thể cả Cd2+ [19]. Sự biến đổi di truyền của thực vật trong quá trình tích lũy kim loại do quá trình chọn lọc tự nhiên tác động làm biến đổi định lượng về khả năng siêu tích lũy trong quần thể [15]. Sự biến đổi này không ảnh hưởng tới nồng độ kim loại trong đất hoặc mức độ chịu đựng kim loại trong cây [15].2 Cơ chế hấp thụ kim loại nặng bằng phương pháp phytoremediation Kĩ thuật phytoremediation giúp thực vật tích lũy hiệu quả các kim loại nặng.
Ngoài ra thực vật còn có một cơ chế bẩm sinh đó là sự hấp thụ của các kim loại nặng không hòa tan thông qua các chất tiết ra từ bộ rễ để giảm các phức chất hữu cơ kim loại hình thành trong đất và chuyển chúng thành các ion hoặc phức kim loại tự do, giúp rễ dễ dàng hấp thụ chúng hơn [17]. Các acid hữu cơ có khối lượng phân tử thấp cũng có khả năng làm tăng khả năng hấp thụ kim loại nặng. Acid này tạo phức với kim loại làm cho kim loại hòa tan giúp cho rễ dễ hấp thụ. Đầu tiên, kim loại được hấp thụ vào rễ thông qua hai con đường đó là con đường apoplastic (con đường vô bào) và thứ hai là con đường symplastic (con đường hợp bào) (hình 1.
Mặt khác, con đường đối xứng cho phép sự di chuyển của các kim loại không quan trọng như Ni, Cd và Pb thông qua tế bào chất bằng cách tiêu thụ năng lượng. Đối với các loài thực vật khác nhau thì khả năng hấp thụ kim loại nặng cũng khác nhau [17]. Quá trình thứ hai là sự di chuyển từ rễ sang chồi. Vận chuyển kim loại nặng từ rễ đến chồi do sự di chuyển của kim loại vào các mạch xylem có liên quan đến việc vận chuyển nước và muối hòa tan.
Kim loại nặng xâm nhập vào các kênh xylem thông qua quá trình được gọi là tải xylem [17]. Quá trình thứ ba là khử độc và cô lập kim loại nặng trong lá. Khi các kim loại nặng được vận chuyển đến lá, chúng được cô lập trong các tế bào của nó hoặc nội bào hoặc ngoài tế bào. Trước khi lưu trữ, chúng được khử độc bằng các phối tử 9 chelate như phytochelatins và acid hữu cơ như histidine hoặc citrate [17].
Các cơ quan chính tham gia tích lũy nồng độ kim loại là không bào. Đây là cơ quan lưu trữ kiểm soát mức độ kim loại nặng thiết yếu và không cần thiết trong tế bào thực vật [17]. Thành phần khoáng dinh dưỡng có trong vùng rễ cũng có thể ảnh hưởng đến sự hấp thụ của kim loại nặng. Khoáng dinh dưỡng có sẵn trong cây có tác dụng kích thích cũng như ức chế chất dinh dưỡng đối với sự hấp thụ kim loại [14].
Ví dụ, sự hấp thụ Cd bị suy giảm đáng kể bởi Ca2+, Mn2+ và Zn2+, có lẽ do cạnh tranh để thay đổi vị trí trên bề mặt rễ cây. Kim loại Ca đặc biệt hiệu quả vì nó có bán kính ion tương tự như Cd và đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động của màng tế bào. Ở thực vật Tamarix aphylla, sự hấp thụ Cd bởi rễ bị cắt bỏ bị ức chế mạnh bởi các ion Ca2+ và Mg2+, nhưng không bị ảnh hưởng bởi Fe [14].