Chương 1: Cơ sở lý thuyết về Node.JS và CSDL PostgreSQL. Chương này trình bày tổng quan về công nghệ Node.JS và cơ sở dữ liệu PostgreSQL Chương 2: Khảo sát thực trạng, phân tích và thiết kế hệ thống quản lý Chương này trình bày về cơ sở lý thuyết hệ thống quản trị quan hệ khách hàng, đồng thời phân tích và thiết kế yêu cầu hệ thống cần có cho phù hợp với yêu cầu bài toán Chương 3: Xây dựng hệ thống Chương này hướng dẫn cài đặt hệ thống để vận hành 3 Phần 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NODE.JS VÀ CSDL POSTGRESQL 1. Ngôn ngữ lập trình Node.
Giới thiệu về Node.js là một hệ thống phần mềm được thiết kế để viết các ứng dụng internet có khả năng mở rộng, đặc biệt là máy chủ web. Chương trình được viết bằng JavaScript, sử dụng kỹ thật điều khiển theo sự kiện, nhập/xuất không đồng bộ để tối tiểu tổng chi phí và tối đại khả năng mở rộng.js bao gồm có V8 JavaScript engine của Google, libUV, và vài thư viện khác.js được tạo bởi Ryan Dahl từ năm 2009, và phát triển dưới sự bảo trợ của Joyent. Mục tiêu ban đầu của Dahl là làm cho trang web có khả năng push như trong một số ứng dụng web như Gmail. Sau khi thử với vài ngôn ngữ Dahl chọn Javascript vì một API Nhập/Xuất không đầy đủ.
Điều này cho phép anh có thể định nghĩa một quy ước Nhập/Xuất điểu khiển theo sự kiện, non-blocking. Vài môi trường tương tự được viết trong các ngôn ngữ khác bao gồm Twisted cho Python, Perl Object Environment cho Perl, libevent cho C và EventMachine cho Ruby. Khác với hầu hết các chương trình Javascript, Node.js không chạy trên một trình duyệt mà chạy trên Server.js sử dụng nhiều chi tiết kỹ thuật của CommonJS. Nó cung cấp một môi trường REPL cho kiểm thử tương tác.js được InfoWorld bình chọn là “Công nghệ của năm” năm 2012.
Để bắt đầu dùng Node.js, bạn phải hiểu sự khác nhau giữa Node.js với các môi trường truyền thống chạy trên server (server side) phổ biến như PHP, Python, Ruby, etc NodeJS là một mã nguồn được xây dựng dựa trên nền tảng Javascript V8 Engine, nó được sử dụng để xây dựng các ứng dụng web như các trang video clip, các forum và đặc biệt là trang mạng xã hội phạm vi hẹp. NodeJS là một mã nguồn mở được sử dụng rộng bởi hàng ngàn lập trình viên trên toàn thế giới. NodeJS có thể chạy trên nhiều nền tảng hệ điều hành khác nhau từ WIndow cho tới Linux, OS X nên đó cũng là một lợi thế. NodeJS cung cấp các thư viện phong phú ở dạng 4 Javascript Module khác nhau giúp đơn giản hóa việc lập trình và giảm thời gian ở mức thấp nhất.
Các đặc tính của Node.js: Không đồng bộ: Tất cả các API của NodeJS đều không đồng bộ (none- blocking), nó chủ yếu dựa trên nền của NodeJS Server và chờ đợi Server trả dữ liệu về. Việc di chuyển máy chủ đến các API tiếp theo sau khi gọi và cơ chế thông báo các sự kiện của Node.js giúp máy chủ để có được một phản ứng từ các cuộc gọi API trước (Realtime). Chạy rất nhanh: NodeJS được xây dựng dựa vào nền tảng V8 Javascript Engine nên việc thực thi chương trình rất nhanh. Đơn luồng nhưng khả năng mở rộng cao: Node.js sử dụng một mô hình luồng duy nhất với sự kiện lặp.
cơ chế tổ chức sự kiện giúp các máy chủ để đáp ứng một cách không ngăn chặn và làm cho máy chủ cao khả năng mở rộng như trái ngược với các máy chủ truyền thống mà tạo đề hạn chế để xử lý yêu cầu.js sử dụng một chương trình đơn luồng và các chương trình tương tự có thể cung cấp dịch vụ cho một số lượng lớn hơn nhiều so với yêu cầu máy chủ truyền thống như Apache HTTP Server. Không đệm: NodeJS không đệm bất kì một dữ liệu nào và các ứng dụng này chủ yếu là đầu ra dữ liệu. Có giấy phép: NodeJS đã được cấp giấy phép bởi MIT License.js chỉ là môi trƣờng Node.js chỉ là môi trường – điều đó có nghĩa là bạn phải tự làm tất cả. Đó không phải là một server http ngầm định hoặc là bất cứ server nào khác.
Điều này có thể là hơi khó hiểu với người mới, nhưng thành công thực sự của nó là đưa lại một hiệu năng đáng kinh ngạc. Một scrips có thể điều phối mọi kết nối với các client. Điều này làm sử dụng ít tài nguyên đưa đến một hiệu quả rất cao. Và giờ ta xem chấm điểm benchmark cho hai đoạn code trên khi chạy trên hai môi trường khác nhau: 5 Number of iterations Node.19 Tôi thực hiện chạy hai đoạn code trên từ command line (console command) nên không có trễ thao tác thực thi.
Tôi chạy từng thử nghiệm 10 lần và lấy kết quả trung bình. PHP nhanh hơn trong các lần chạy với số lượng nhỏ vòng lặp. Nhưng vấn đề thay đổi khi số lượng vòng lặp tăng lên, số lần xử lý tăng lên thì PHP chạy chậm hơn rất nhiều trong khi Node.js có tốc độ đáng kinh ngạc. Sau tất cả thao tác, PHP chậm hơn 93% so với Node.js sử dụng một kiến trúc mô-đun để đơn giản hóa việc tạo ra các ứng dụng phức tạp.
Mô-đun giống như các thư viện trong C, hoặc các đơn vị trong Pascal. Mỗi module có chứa một tập hợp các chức năng liên quan đến "đối tượng" của các mô-đun. Ví dụ, các mô-đun http chứa các chức năng cụ thể cho HTTP.js cung cấp một vài mô-đun cơ bản để giúp bạn truy cập các tập tin trên hệ thống tập tin, tạo ra trình điều khiển server HTTP và TCP / UDP và thực hiện các chức năng hữu ích khác. Để gọi một module thật dễ dàng, chỉ cần gọi hàm require() như sau var http = require(„http‟); Hàm require() trả về tham chiếu đến các module quy định.
Trong trường hợp của mã này, một tham chiếu đến các module http được lưu trữ trong biến http. Trong đoạn code trên, ta đã truyền tên của module vào trong hàm require(). Việc này chỉ định cho Node.js tìm trong thư mục node_modules module tương ứng để thực hiện. Nếu Node không thấy module tương ứng trong thư mục thì nó sẽ tìm trên global module cache.
Bạn cũng có thể chỉ định một module qua một file vật lý qua đường dẫn tương đối hay tuyệt đối như sau: var myModule = require('.js'); 6 Module được đóng gói từng phần mã. Đoạn mã nằm trong một mô-đun chủ yếu là private - có nghĩa là các chức năng và biến được định nghĩa trong họ chỉ có thể truy cập từ bên trong của các mô-đun. Tuy nhiên, bạn có thể tiếp xúc với chức năng và / hoặc các biến được sử dụng từ bên ngoài của mô-đun. Để làm như vậy, phải sử dụng các đối tượng export với các thuộc tính và phương thức của nó với từng phần mã mà bạn muốn gọi từ bên ngoài.
Hãy xem xét các modul ví dụ sau đây: var PI = Math.area = function (r) { return PI * r * r; }; exports.circumference = function (r) { return 2 * PI * r; }; Trong ví dụ này PI là biến private và chỉ được sử dụng bên trong đoạn mã, trong đó có hai hàm area() và circumference() được từ khóa exports chỉ định thì sẽ có thể truy cập được từ bên ngoài. Global Scope Node là một môi trường chạy javascrip với google V8 engine do đó hỗ trợ chạy được ở server side. Do đó bạn cũng nên tuân thủ các kinh nghiệm mà bạn có trong lập trình với các ứng dụng client-side. Ví dụ khi tạo các biến global trong Node không phải lúc nào cũng có thể tạo.
Nhưng bạn có thể tạo dễ dàng các biến hoặc hàm global với cách bỏ từ khóa var trước các biến như sau: globalVariable = 1; globalFunction = function () {. }; Nhưng các biến global nên tránh sử dụng, và xin nhớ cẩn thận rằng khi khai báo biến thì dùng từ khóa var để thực hiện. Cộng đồng Cộng đồng phát triển Node.js chủ yếu tập trung ở hai nhóm google: nodejs và nodejs-dev, một kênh IRC là nodejs trên mạng freenode. Có một hội thảo về Node.js là NodeConf được tổ chức thường niên.
Hiện nay Node.js được sử dụng bởi nhiều công ty trong đó có Linkedin, Microsoft, Yahoo! và Walmart.js Hiển nhiên là bạn phải học cách cài đặt node trước khi muốn viết và chạy bất cứ ứng dụng nào trên nền node. Cài đặt node thì rất là đơn giản, bạn là người sử dụng window hay linux thì trên website nodejs.org đều đã có những bộ cài tương ứng, bạn chỉ cần download về và cài đặt như thông thường. Với linux thì bạn sử dụng package manager, bật cửa sổ terminal và type: sudo apt-get update sudo apt-get install node Hoặc: sudo aptitude update sudo aptitude install node Bạn có thể cần thêm Node.js vào danh sách mã nguồn bằng lệnh sau: sudo echo deb sid main > /etc/apt/ sources.list Cần trọng khi cài sid packages trên những hệ thống cũ hơn có thể làm hệ thống của bạn bị ảnh hưởng, hay cẩn thận và remove /etc/apt/sources.list sau khi bạn cài xong Node. Installing New Modules Node.js có một ứng dụng quản lý packages, đó là Node Package Manager (NPM).
Ứng dụng này tự động được cài đặt khi bạn cài Node.js và bạn dùng NPM để cài đặt các module khác. Để cài đặt một module, bạn mở cửa sổ command line của nodejs ra, vào đường dẫn tương ứng và nhập lệnh: npm install module_name Không phụ thuộc vào hệ điều hành bạn dùng, lệnh trên sẽ cài module mà bạn mong muốn chỉ định. Như chúng ta đã biết, hệ thống mô-đun của node không khuyến khích việc sử dụng biến toàn cục, tuy nhiên node cung cấp một globals quan trọng để sử dụng. Việc đầu tiên và quan trọng nhất là tiến trình global, cho thấy nhiều thao tác như quá trình truyền tín hiệu, xuất cảnh, proccess id (pid), và nhiều hơn nữa.
Globals khác, chẳng hạn như console obiects được cung cấp cho những người sử dụng để viết JavaScript cho trình duyệt web. Console Các console obiects sử dụng một số lệnh được sử dụng để xuất thông tin để stdout hoặc stderr.Chúng là các lệnh như: console.]) Phương pháp console obiects được sử dụng thường xuyên nhất là console.log(), mà chỉ đơn giản là viết cho stdout và gắn một nguồn cấp dữ liệu dòng //=>Wahoo console.log({foo:'bar'}); // => [Object Object] Còn một lệnh có chức năng như console.log() đó là console.]) Giống hệt nhau để console.log(), tuy nhiên viết cho stderr.error ('kết nối cơ sở dữ liệu không thành công '); Còn một lệnh có chức năng như console.error()đó là console.Process Các process object gắn liền với goodies. Trước tiên, chúng ta sẽ có một cái nhìn tại một số thuộc tính cung cấp thông tin về node process đó: process.version Chuỗi phiên bản nút, ví dụ: Console.log(„Version: ‟ + process.