Đặt vấn đề Tổng hợp tiếng nói nhân tạo đã được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống và từ lâu đã trở thành một chủ đề lớn trong nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo, ngôn ngữ tự nhiên và xử lý giọng nói. Khi có sự phát triển của học sâu, tổng hợp tiếng nói dựa trên mạng nơ-ron đã phát triển mạnh, một lượng lớn công trình nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh khác nhau của tổng hợp tiếng nói dựa trên mạng nơ- ron [9] [10] [11]. Do đó, chất lượng của tiếng nói tổng hợp đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Mục tiêu quan trọng nhất của một hệ thống TTS là tổng hợp được tiếng nói chất lượng cao.
Chất lượng của tiếng nói được xác định bởi nhiều khía cạnh liên quan đến nhận thức lời nói, bao gồm tính dễ hiểu, tính tự nhiên, biểu cảm, ngữ điệu, cảm xúc, phong cách, độ mạnh mẽ, khả năng điều khiển giọng, v. Trong khi các phương pháp tiếp cận nơ-ron đã cải thiện đáng kể chất lượng của giọng nói tổng hợp đạt được như con người thì vẫn còn nhiều hướng đi nhằm cải tiến các tồn tại của hệ thống tổng hợp tiếng nói, trong đó thu nhỏ kích thước dữ liệu huấn luyện bằng các kỹ thuật thích nghi là cách tiếp cận phổ biến và chiếm ưu thế nhất [12] [13] [14]. Tổng quan về tổng hợp tiếng nói và tổng hợp thích nghi 1. Tổng hợp tiếng nói Trước khi nói về tổng hợp tiếng nói, cần phân tích bản chất cách con người tạo ra âm thanh và tiếng nói.
Âm thanh và tiếng nói của con người được tạo ra bởi sự tương tác phức tạp của các thành phần trong cơ thể người. Hầu hết các âm thanh và tiếng nói đều bắt đầu bằng hệ thống hô hấp, hệ thống này sẽ đẩy không khí ra khỏi phổi theo mô tả trong Hình 1. Hình 1: Cấu tạo bộ lọc nguồn tạo ra âm thanh và lời nói của con người [15] Theo lý thuyết bộ lọc nguồn [15], luồng không khí từ phổi gây ra rung động ở nếp gấp thanh quản, nơi tạo ra âm thanh nguồn. Bộ lọc âm định hình cấu trúc phổ của âm thanh nguồn.
Âm thanh và lời nói được lọc cuối cùng được phát ra từ miệng. Có thể mô tả chi tiết như sau: Không khí đi qua khí quản và đi vào thanh quản, nơi có hai nếp gấp cơ nhỏ, được gọi là “Nếp gấp thanh quản”. Khi các nếp gấp thanh âm được tập trung lại với nhau để tạo thành một đường dẫn khí hẹp, luồng khí làm cho chúng dao động theo chu kỳ. Các rung động nếp gấp thanh quản điều chỉnh áp suất không khí và tạo ra âm thanh tuần hoàn.
Những âm thanh được tạo ra, khi các nếp gấp thanh quản rung động, được gọi là “âm hữu thanh”, trong khi âm thanh mà các nếp gấp thanh quản không rung động được gọi là “âm 7 vô thanh”. Các đường dẫn khí phía trên thanh quản được gọi là “Dây thanh quản”. Các luồng không khí hỗn loạn được tạo ra tại các phần bị co thắt của thanh môn hoặc thanh quản cũng góp phần tạo ra âm thanh nguồn không theo chu kỳ được phân phối trên một dải tần số rộng. Hình dạng của đường thanh âm và vị trí của các khớp nối (tức là hàm, lưỡi, vật đệm, môi, miệng, răng và vòm miệng cứng) là yếu tố quan trọng để xác định đặc trưng âm học của tiếng nói.
Trạng thái của các nếp gấp thanh âm cũng như vị trí, hình dạng và kích thước của các khớp nối thay đổi theo thời gian để tạo ra các âm thanh khác nhau một cách tuần tự. Con người có thể kiểm soát quá trình phát âm (tạo nguồn) và đọc âm (lọc) một cách độc lập. Do đó, âm thanh và lời nói được coi là phản ứng của bộ lọc đường âm, nơi cung cấp nguồn âm thanh. Để mô hình hóa các hệ thống lọc nguồn như vậy cho việc tạo ra tiếng nói, nguồn âm thanh hoặc tín hiệu kích thích x(t) thường được thực hiện như một hệ thống phát xung định kỳ cho giọng nói, trong khi tiếng ồn trắng được sử dụng làm nguồn cho lời nói không chỉnh âm.
Nếu cấu hình đường âm không thay đổi theo thời gian, bộ lọc đường âm sẽ trở thành một hệ thống tuyến tính bất biến theo thời gian (LTI) và tín hiệu đầu ra y(t) có thể được biểu thị bằng tích chập của tín hiệu đầu vào x(t) và đáp ứng xung của hệ thống h(t) như công thức sau: y(t) = h(t) ∗ x(t), (1.1) trong đó dấu hoa thị * biểu thị tích chập. Phương trình trên được mô tả trong miền thời gian, cũng có thể được biểu diễn trong miền tần số như sau: Y(ω) = H(ω) X(ω).2) 8 Công thức miền tần số cho biết rằng phổ giọng nói Y(ω) được mô hình hóa như một sản phẩm của phổ âm thanh nguồn X(ω) và phổ âm thanh của bộ lọc đường âm H(ω). Phổ của bộ lọc đường âm H(ω) được biểu thị bằng tích của hàm truyền qua đường thanh âm T(ω) và các đặc tính bức xạ từ miệng và mũi R(ω), nghĩa là: Y(ω)=[T(ω) R(ω)]X(ω).3) Dựa trên nguyên tắc tổng hợp tiếng nói tự nhiên, việc tổng hợp tiếng nói nhân tạo cũng theo nguyên tắc với đầu vào dựa trên tiếng nói tự nhiên của con người nhằm tạo ra một mô hình tổng hợp, sau cùng có thể dùng mô hình tổng hợp này để sinh tiếng nói ngẫu nhiên bằng đầu vào văn bản hoặc các mã hóa ngữ âm (âm vị, mã âm thanh, mã phần cứng). Hình 2 mô tả trực quan quá trình tổng hợp tiếng nói nhân tạo.
Quá trình Quá trình Nhãn văn bản huấn luyện tổng hợp (X) Mô hình tổng hợp Tiếng nói tự nhiên Tiếng nói nhân tạo của con người (y) (Y) Văn bản hoặc mã hóa ngữ âm (x) Hình 2: Mô hình tổng hợp tiếng nói nhân tạo Khái niệm tổng hợp tiếng nói Tổng hợp tiếng nói (Speech Synthesis) là quá trình tạo ra tiếng nói con người một cách nhân tạo từ đầu vào là văn bản hoặc các mã hóa ngữ âm. Tổng hợp tiếng nói chính là một phần trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Chuyển đổi văn bản thành tiếng nói (Text to Speech – viết tắt là TTS) là một công nghệ quan trọng trong tổng hợp tiếng nói, công nghệ này tạo ra sóng âm tiếng nói đầu ra một cách tùy ý từ văn bản bằng đầu vào. Nghiên cứu của luận án là một nhánh nằm trong tổng hợp tiếng nói từ văn bản (TTS).
Có thể mô tả hệ thống TTS bằng mô hình tính xác suất phân phối dự đoán: 𝑝(𝑦|𝑥, 𝑌, 𝑋) (1.4) 9 trong đó, 𝑌 là âm thanh tiếng nói dùng để huấn luyện và 𝑋 là văn bản gán nhãn tương ứng, x là văn bản đầu vào và y là tiếng nói cần tổng hợp. Nếu coi 𝑜 và 𝒪 lần lượt là đặc trưng âm học của y và Y, l và L lần lượt là đặc trưng ngôn ngữ của x và X, 𝜆 là mô hình, thì ta có thể biểu diễn biểu thức trên dưới dạng các biến đại diện và phục thuộc như sau: 𝑦𝑜 𝑜 𝑙, 𝜆 𝑙𝜆 𝑙𝑥 ( | 𝒪) (𝒪| , ) ( ) ( | ) 𝑝(𝑦|𝑥, 𝑌, 𝑋) = ∭ ∑∀ ∑∀ ( ) 𝑑𝑜𝑑𝒪𝑑𝜆 (1. Phân loại các phương pháp tổng hợp tiếng nói Có thể phân loại các nghiên cứu về tổng hợp tiếng nói theo các nhóm sau: *Tổng hợp dựa trên khớp nối (Articulatory Synthesis): Tổng hợp khớp nối [16] tạo ra tiếng nói bằng cách mô phỏng hành vi của bộ phận khớp nối của con người như môi, lưỡi, thanh quản và đường thanh âm chuyển động. Tuy nhiên, rất khó để mô hình hóa các hành vi của khớp nối này hoạt động trong thực tế.
Do đó, chất lượng giọng nói do tổng hợp khớp nối thường kém hơn so với chất lượng giọng nói bằng các kỹ thuật tổng hợp sau này. *Tổng hợp formant (Formant Synthesis): Tổng hợp formant [17] tạo ra lời nói dựa trên một tập hợp các quy tắc điều khiển mô hình bộ lọc nguồn đơn giản hóa. Các lời nói được tổng hợp bởi một mô-đun tổng hợp phụ và một mô hình âm học với các thông số khác nhau như tần số cơ bản, giọng nói và mức tiếng ồn. Tổng hợp formant có thể tạo ra giọng nói dễ hiểu với tài nguyên tính toán vừa phải, phù hợp với các hệ thống nhúng và không dựa vào kho ngữ liệu giọng nói của con người quy mô lớn như trong tổng hợp ghép nối.
Tuy nhiên, giọng nói 10 tổng hợp nghe kém tự nhiên hơn và hơi máy. Hơn nữa, rất khó để xác định các quy tắc tổng hợp. *Tổng hợp dựa trên ghép nối (Concatenative Synthesis): Tổng hợp dựa trên ghép nối [18] dựa vào việc nối các đoạn lời nói được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu. Cách này chỉ thực sự hiệu quả khi bộ dữ liệu âm thanh đủ lớn cả về kích thước, độ đa dạng phát âm và các đặc trưng phổ âm thanh.
Có ba kiểu tổng hợp ghép nối: Tổng hợp chọn đơn vị âm; Tổng hợp âm kép (dipphone) và; Tổng hợp chuyên ngành. Tuy nhiên, TTS dựa trên ghép nối yêu cầu cơ sở dữ liệu ghi âm khổng lồ, bao gồm tất cả các xác suất kết hợp có thể có của các đơn vị tiếng nói. Một nhược điểm nữa là giọng nói được tạo ra kém tự nhiên và kém tính truyền cảm do điểm ghép nối kém mượt do sự căng thẳng, cảm xúc, ngữ điệu, khác nhau tại từng thời điểm thu âm. *Tổng hợp dựa trên tham số thống kê (Statistical Parametric Synthesis- SPSS): Để giải quyết những hạn chế của TTS ghép nối, tổng hợp tiếng nói tham số thống kê (SPSS) được đề xuất [19].
Ý tưởng cơ bản là thay vì tạo trực tiếp dạng sóng thông qua ghép nối, trước tiên có thể tạo ra các tham số âm thanh [20] [21] cần thiết để tạo ra giọng nói, sau đó khôi phục giọng nói từ các tham số âm thanh đã tạo bằng một số thuật toán [22] [23] [24]. Trích rút đặc Tổng hợp tham Bộ phát âm Văn Sóng âm trưng ngôn ngữ số thống kê (Vocoder) bản Hình 3: Tổng hợp tiếng nói dựa trên tham số thống kê SPSS thường bao gồm ba thành phần: một mô-đun phân tích văn bản nhằm trích rút đặc trưng ngôn ngữ ; một mô-đun dự đoán tham số thống kê (mô hình âm học) và một mô-đun phân tích, tổng hợp thành sóng âm. Có thể mô tả các mô- đun trong Hình 3. SPSS có một số ưu điểm so với các hệ thống TTS trước đây: 1) Tính tự nhiên, âm thanh tự nhiên hơn; 2) Tính linh hoạt, để sửa đổi các tham số một cách thuận tiện để kiểm soát lời nói tạo ra; 3) Chi phí dữ liệu thấp, yêu cầu ít bản ghi hơn so với tổng hợp ghép nối.