CHƯƠNG I – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC Cố định xúc tác trên các chất mang rắn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tách sản phẩm, thu hồi và tái sử dụng xúc tác, là một hướng nghiên cứu đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Nhiều chất mang đã được nghiên cứu sử dụng cho việc cố định xúc tác như các loại vật liệu trên cơ sở silica, zeolite, polymer… [1-3]. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của vấn đề truyền khối, đặc biệt là cho những phản ứng thực hiện trong pha lỏng ở nhiệt độ thấp, hoạt tính của những xúc tác cố định trên các chất mang truyền thống này vẫn còn cần được nghiên cứu cải thiện thêm. Trong bối cảnh đó, các vật liệu rắn kích thước nano (nanoparticles) đã và đang được xem như là một loại chất mang mới có thể thay thế cho các chất mang truyền thống họ silica, zeolite, polymer … trong việc cố định xúc tác.
Khi các chất mang giảm xuống kích thước nano, xúc tác cố định trên đó mặc dù là dị thể nhưng sẽ có xu hướng tiến gần đến xúc tác đồng thể. Do đó, hạn chế của vấn đề truyền khối sẽ được giảm xuống so với trường hợp sử dụng các chất mang rắn truyền thống [4-6]. Tuy nhiên, khi các chất mang rắn giảm xuống kích thước nano, vấn đề tách xúc tác ra khỏi hỗn hợp phản ứng lại trở nên khó khăn hơn. Các phương pháp lọc hay ly tâm thông thường có thể sẽ không tách được các hạt rắn kích thước nano ra khỏi hỗn hợp phản ứng.
Để lọc các xúc tác kích thước nano khỏi hỗn hợp phản ứng, phải sử dụng các màng lọc nano đắt tiền. Trong trường hợp này, nếu sử dụng các chất mang nano có từ tính (superparamagnetic nanoparticles), việc tách xúc tác ra khỏi hỗn hợp phản ứng trở nên dễ dàng hơn nhờ vào việc sử dụng một nam châm hoặc một từ trường ngoài [7]. Việc điều chế các vật liệu nano có từ tính đã được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Các vật liệu này được nghiên cứu sử dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực y sinh và lĩnh vực xúc tác [8, 9].
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chất mang xúc tác nano từ tính trong các phản ứng tổng hợp hữu cơ như ghép đôi C-C, hydro hóa, oxi hóa, amin hóa, ester hóa. 1 Phản ứng hydro hóa chọn lọc nhóm alkyne thành alkane và carbonyl thành alcohol được ứng dụng phổ biến nhằm tạo ra những hợp chất có giá trị cao trong lĩnh vực hóa dầu, dược phẩm và thực phẩm. Từ khi ruthenium (Ru) được biết đến như một xúc tác hữu hiệu cho phản ứng này, đã có nhiều hệ xúc tác Ru được nghiên cứu và công bố. Trên tạp chí Tetrahedron Letters, R.
Varma và các đồng nghiệp tại phòng nghiên cứu thuộc viện bảo vệ môi trường Hoa Kỳ đã tổng hợp và ứng dụng xúc tác Ru cố định trên hạt nano từ tính NiFe2O4 (Ru-NiFe2O4 [10]. Phản ứng hydro hóa chọn lọc nhóm alkyne với xúc tác Re-NiFe2O4 [10]. Hạt nano NiFe2O4 được tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt từ muối nitrat của Fe(III) và Ni(II). Sau đó, bề mặt hạt NiFe2O4 được biến tính với 2-(3,4- dihydroxyphenyl)-ethylamine để tạo phức với muối RuCl3.
Quá trình khử Ru(III) về Ru(0) được thực hiện bằng chất khử mạnh NaBH4. Ảnh chụp TEM cho thấy các hạt nano từ tính có dạng hình cầu đồng đều có đường kính vào khoảng 10-12 nm, kết quả này cũng phù hợp với kích thước tinh thể được xác định từ phổ nhiễu xạ tia X. Phân tích ICP-AES cho thấy hàm lượng Ru có trên chất mang NiFe2O4 là 3.84% về khối lượng và giảm không đáng kể sau ba lần tái sử dụng xúc tác. Phản ứng trao đổi hydro của nhóm carbonyl với xúc tác Ru-NiFe2O4 [10].
Ru tẩm trên chất mang nano NiFe2O4 được sử dụng làm xúc tác cho phản ứng hydro hóa chọn lọc nhóm alkyne trên nhiều chất khác nhau (Bảng 1). Các phản ứng được thực hiện trong dung môi methanol đạt độ chuyển hóa hơn 95% ở nhiệt độ phòng. Hoạt tính xúc tác cũng được kiểm tra cho phản ứng hydro của nhiều hợp chất carbonyl dưới điều kiện vi sóng (Bảng 2). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng vi sóng đã giảm thời gian phản ứng đáng kể so với điều kiện gia nhiệt thông thường.
Độ chuyển hóa của các phản ứng tạo thành ancol tương ứng đạt trên 95% chỉ sau 30-45 phút. Đặc biệt, xúc tác nano từ tính dễ dàng được thu hồi từ hỗn hợp phản ứng nhờ từ trường ngoài và vẫn duy trì hoạt tính cao sau 5 lần tái sử dụng. Mới đây, hệ xúc tác phức Ru cố định trên chất mang nano Fe3O4 cũng được tổng hợp bởi C. Để kiểm tra hoạt tính của hệ xúc tác mới này trong phản ứng đóng vòng, các tác chất alkadiene khác nhau đã được sử dụng và các phản ứng thực hiện ở 40 oC đều cho độ chuyển hóa 3 trên 95% chỉ sau 2 giờ.
Đặc biệt, xúc tác nano từ tính đã được tái sử dụng sau 22 lần mà vẫn duy trì hoạt tính cao (Bảng 3). Kết quả khảo sát khả năng tái sử dụng phức Ru trên chất mang nano từ tính cho phản ứng đóng vòng hoán vị [11]. Jacinto và các đồng nghiệp đã tổng hợp xúc tác Pt(0) cố định trên vật liệu nano từ tính và sử dụng cho phản ứng hydro hóa olefin, arene và ketone (Bảng 4). Đây là phản ứng quan trọng lĩnh vực tổng hợp hữu cơ hóa dầu để chuyển hóa các nguyên liệu cơ bản thành các sản phẩm có giá trị cao.
Phương pháp vi nhũ được áp dụng để tổng hợp nên hạt nano Fe3O4 và sau đó phản ứng với tetraethylorthosilicate để tạo một lớp phủ silica trên bề mặt vật liệu. Fe3O4-SiO2 tiếp tục được biến tính với nhóm amine để dễ dàng tạo phức bền với Pt(II) trong K2PtCl4. Xúc tác Pt(0) được hình thành từ quá trình khử phức Pt(II) cố định trên chất mang nano từ tính bởi tác nhân khử là hydro sử dụng trong phản ứng hydro hóa. Hệ xúc tác Pt(0) được thu hồi sau phản ứng và sử dụng lại cho những lần sau.
Kết quả nghiên cứu này đã được đăng trên tạp chí Catalysis Communications. Kết quả phân tích ICP-AES cho thấy hàm lượng Pt trên chất mang Fe3O4-SiO2 (1.95% khối lượng) cao hơn hẳn so với trên silica thông thường (0. Xúc tác thể hiện hoạt tính tốt trong phản ứng hydro hóa các hydrocarbon không no và 4 ketone dưới điều kiện êm dịu (65 oC, 6 atm) và không có dung môi. Khả năng thu hồi và tái sử dụng xúc tác Pt đã được khảo sát.
Xúc tác được sử dụng lại 7 lần và 14 lần tương ứng trong phản ứng hydro hóa benzene và 3-pentanone mà không hề giảm hoạt tính. Đặc biệt, hàm lượng Pt lưu lại trong sản phẩm là rất thấp (< 0.01 ppm) trong tất cả các phản ứng. Các kết quả này chứng minh sự ổn định và độ bền cao của xúc tác Pt(0) cố định trên bề mặt vật liệu nano từ tính. Phản ứng hydro hóa olefin, arene và ketone sử dụng xúc tác Pt trên vật liệu nano từ tính [12].
Tiếp tục những nghiên cứu về chất mang nano từ tính, U. Laska và các đồng nghiệp đã tổng hợp và khảo sát hoạt tính của hệ xúc tác phức palladium acetate tẩm trên hạt nano Fe3O4 (Pd(II)-Fe3O4) trong các phản ứng ghép đôi [13]. Chất mang nano từ tính được điều chế bằng phương pháp đồng kết tủa ion Fe(III) và Fe(II) trong dung dịch base. Kích thước hạt nano được xác định vào khoảng 7-17 nm dựa trên kết quả TEM và XRD.
Khảo sát đường cong từ trễ đã chứng minh tính siêu thuận từ (supermagnetism) của xúc tác nano từ tính ở nhiệt độ thường. Tác giả đã sử dụng xúc tác nano Pd(II)-Fe3O4 trong phản ứng Heck và Suzuki với những dẫn xuất khác nhau của bromobenzene. Kết quả này cho thấy các phản ứng ghép đôi sử dụng xúc tác nano 5 từ tính xảy ra dễ dàng hơn khi có nhóm hút điện tử trên vòng benzene, còn nhóm đẩy điện tử làm giảm tốc độ phản ứng. Kết quả khảo sát khả năng tái sử dụng của xúc tác nano Pd(II)-Fe2O3 trong phản ứng Heck [13].
Sau mỗi phản ứng, việc tách xúc tác được thực hiện dễ dàng bằng từ trường ngoài có cường độ 0. Phân tích AAS cho thấy hơn 99% khối lượng xúc tác được thu hồi sau tách khỏi hỗn hợp phản ứng và rửa sạch. Kết quả này chứng minh khả năng thu hồi tốt và độ bền cao của hệ xúc tác Pd(II)-Fe3O4. Hơn nữa, hoạt tính của xúc tác tái sử dụng qua nhiều lần hầu như không thay đổi đáng kể (Bảng 5).
hạt nano SiO2-Fe3O4 được biế [14]. Chất lỏng ion chứa nhóm chức silane cố định với bề mặt hạt nano nhờ liên kết Si – O – Si (Hình 1). Kết quả phân tích chứng minh hàm lượng. Qua khảo sát cho thấy hoạt tính xúc tác của enzyme trên hạt nano đ ; enzyme tẩm trên hạt nano vẫn duy trì hoạt tính cao ở 80 o 6.
Cấu trúc của chất lỏng ion cố định trên vật liệu nano từ tính [14]. Phản ứng ghép đôi chéo carbon-carbon (cross-coupling reactions) xây dựng bộ khung carbon phức tạp từ những phân tử đơn giản nhờ vào các xúc tác kim loại chuyển tiếp đã và đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng các nhà khoa học trong những năm vừa qua [15-19] - phenyl biphenyl [20]. Phản ứng Suzuki là giai đoạn quan trọng trong quá trình điều chế dược phẩm discodermolide [21], dynemicin A [22] và epothilone A [23]– đây là những hoạt chất có khả năng hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư. Các sản phẩm tự nhiên như dragmacidin F [24] có khả năng kháng virus HIV được cô lập từ loài bọt biển hay diazonamide A [25] ứng dụng điều trị ung thư ruột kết có trong loài hải tiêu… cũng có thể được tổng hợp thông qua phản ứng Suzuki.
Nhiều giai đoạn trong quá trình tổng hợp một số loại thuỷ tinh hữu cơ hoặc polymer dẫn điện có tính năng đặc biệt cần sử dụng đến phản ứng Suzuki [26]. Suzuki như: Pd/C, Pd/SiO2, Pd/Al2O3, Pd/polystyrene…[26, 30-32]. Phản ứng Suzuki trong tổng hợp dược phẩm (+)-discodermolide [21] và rutamycin B[34]. Trên tạp chí Chemical Communication, P.
Trong đó, nhóm cố định phức chất giữa Pd và hợp chất dị vòng N-heterocylic trên bề mặt nano γ-Fe2O3 những 8 Sonogashira. Nghiên cứu khảo sát nhiều tác chất khác nhau và đều đạt độ chuyển hóa cao trong các phản ứng (Bảng 6). Hoạt tính ổn định của hệ xúc tác được kiểm chứng thông qua một loạt thí nghiệm với chất xúc tác được tái sử dụng nhiều lần. Phản ứng Suzuki được xúc tác bởi palladium N-heterocyclic carbene nano từ tính [33].