MỞ ĐẦU Với vốn tài nguyên thực vật đa dạng phong phú của nước ta, việc nghiên cứu phân loại học thực vật đã và đang được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm, bởi điều đó sẽ mang lại lợi ích to lớn cho các ngành khoa học ứng dụng liên quan như: nông-lâm nghiệp, y dược học, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường… Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về ngành Dương xỉ (Pteridophyta) nói chung và họ Ráng cánh bần (Dryopteriaceae Ching) nói riêng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu do các đặc điểm của chúng khó để phân loại bằng mắt thường mà cần sử dụng kính hiển vi. Đồng thời ý nghĩa về kinh tế và môi trường của ngành Dương xỉ cũng chưa được khai thác và áp dụng nhiều trong thực tiễn. Chi Ráng thù xỉ - Arachniodes Blume là một trong những chi dương xỉ khó và phức tạp nhất trong ngành dương xỉ. Đó cũng là lý do vì sao vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về danh pháp khoa học của chi trên phạm vi toàn cầu và mãi đến năm 2019, công bố của Lữ Thị Ngân và cộng sự [23] là công trình đầu tiên nghiên cứu phát sinh chủng loại của chi Ráng thù xỉ dựa trên 7 vùng gen lục lạp.
Theo các nghiên cứu trước đây, số lượng loài thuộc chi Ráng thù xỉ trên thế giới vẫn chưa thống nhất: theo Ching (1962) chi có 40 loài [5], theo Kramer (1990) có khoảng 50-70 loài [18]; theo PPGI (2016) chi Ráng thù xỉ gồm 60 loài [32]; theo The plant list [35] có tới 224 loài trong đó 143 tên loài được chấp nhận; trong Kew Science (Plants of the world online) liệt kê 68 tên loài được chấp nhận [36]; Lữ Thị Ngân và cộng sự (2019) đã lập luận và cho rằng chi Ráng thù xỉ có 83 loài, phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Nam đến Đông Nam châu Á, một số loài ở nhiệt đới châu Mỹ, châu Úc và châu Phi (1 loài) [23]. Ở Việt Nam, Phạm Hoàng Hộ trong Cây cỏ Việt Nam (1999) ghi nhận chi Ráng thù xỉ có 6 loài [1]. Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001) liệt kê 5 loài thuộc chi [2]. Năm 2010, Phan Kế Lộc cập nhật lại danh lục các loài trong ngành dương xỉ cho khu hệ thực vật Việt Nam theo hệ thống phân loại của A.
Điều đó chứng tỏ số lượng loài của chi Ráng thù xỉ đã thay đổi rất nhiều so với trước đây chục năm. 1 Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao, trong đó ngành dương xỉ và cận dương xỉ có khoảng 800 loài, đặc biệt, họ Ráng cánh bần (Dryopteridaceae) là một trong ba họ dương xỉ lớn. Mặc dù đã có một số công trình đề cập đến nghiên cứu họ Ráng cánh bần nhưng vẫn chưa có hệ thống học và phân loại đầy đủ chi tiết cho từng taxon của các chi trong họ, và một số thông tin còn thiếu cập nhật. Ngoài ra, với sự phát triển của ngành khoa học việc áp dụng các phương pháp hiện đại, các kỹ thuật tiên tiến vào trong nghiên cứu đã gặt hái được rất nhiều thành công, hơn nữa kết quả của nghiên cứu thường có độ tin cậy cao hơn.
Do đó, nhằm góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu cho việc biên soạn bộ sách “Thực vật chí Việt Nam” sách chuyên khảo, đồng thời để nâng cao sự hiểu biết về các taxon của chi Ráng thù xỉ, cũng như góp phần phục vụ công tác nghiên cứu ứng dụng, hỗ trợ cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi Ráng thù xỉ (Arachniodes Blume), họ Ráng cánh bần (Dryopteridaceae) ở Việt Nam”. Mục tiêu của đề tài: Hoàn thành phân loại và cập nhật danh lục các taxon thuộc chi Ráng thù xỉ ở Việt Nam một cách đầy đủ và có hệ thống, làm cơ sở để biên soạn thực vật chí về họ Ráng cánh bần ở nước ta và các nghiên cứu về sau. Bên cạnh đó, những kết quả trong đề tài này còn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong xây dựng tài liệu cơ bản về chi Ráng thù xỉ tại Việt Nam. * Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung và hoàn chỉnh vốn tài liệu về phân loại chi Ráng thù xỉ (Arachniodes Blume) nói riêng và họ Ráng cánh bần (Dryopteridaceae) nói chung, phân tích và lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp cho chi Ráng thù xỉ, và cập nhật bổ sung lại danh lục các loài thuộc chi.
Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để nghiên cứu cho các taxon khác của họ Ráng cánh bần (Dryopteridaceae) ở Việt Nam. * Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học phục vụ thiết thực cho nghiên cứu Bảo tồn, Đa dạng sinh học, Tài nguyên thực vật, Bảo vệ môi trường, Y - Dược. Tình hình nghiên cứu chi Ráng thù xỉ trên thế giới Chi Ráng thù xỉ (Arachniodes Blume) là một trong những chi khá phức tạp về hình thái học, dễ gây nhầm lẫn và tranh cãi về giới hạn loài, danh pháp và phân loại học. Chi này gồm khoảng 40 đến hơn 200 loài, phân bố ở các khu rừng cận nhiệt đới đến nhiệt đới, chủ yếu ở Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Á đến Đông Nam Á; chỉ có một vài loài được tìm thấy ở châu Phi, Trung đến Nam Mỹ, châu Úc, và các đảo Thái Bình Dương [14].
Các công trình nghiên cứu phân tử trước đây chỉ bao gồm 2 đến 17 mẫu đại diện cho 2 đến 12 loài Ráng thù xỉ và các loài của nhóm đối chứng. Tuy nhiên, hầu hết các loài châu Á vẫn chưa được nghiên cứu về mối quan hệ phát sinh chủng loại. Thực tế, chi này là một trong những chi khó trong nhóm dương xỉ vì đặc điểm hình thái của nó là tổ hợp các đặc điểm của các chi khác, do đó phân loại chi Ráng thù xỉ rất phức tạp. Không dễ để xác định chính xác số lượng loài trong chi do các đặc điểm về kích thước lá, hình dạng phiến lá và lá chét, hình dạng đầu lá thường thay đổi lớn.
Hầu hết các mẫu vật khô ở phòng tiêu bản không có thân rễ kèm theo, đôi khi chỉ là một phần của phiến lá, không mang cuống lá hoặc thậm chí chỉ là các lá chét bởi vì hầu hết các mẫu vật đã được thu thập từ lâu và điều này đã gây khó khăn trong việc định tên loài. Mặc dù đã có một vài nghiên cứu về phân loại cho chi Ráng thù xỉ trước đây, tuy nhiên các công trình này còn gặp nhiều hạn chế và nhỏ lẻ. Cụ thể các quan điểm nghiên cứu phân loại của chi Ráng thù xỉ qua các giai đoạn thời gian được sơ lược lại như bảng 1 sau đây: 3 Bảng 1. Quan điểm phân loại ranh giới của chi Arachniodes và các chi gần gũi Chi tiết các nghiên cứu trước đây về chi Ráng thù xỉ như sau: Năm 1828, chi Ráng thù xỉ Arachniodes lần đầu tiên được mô tả và công bố bởi Carl Ludwig von Blume [4] dựa trên mẫu vật được tìm thấy ở Ấn độ là Arachniodes aspidioides Blume.
Kể từ đó, chi Ráng thù xỉ đã không được biết đến rộng rãi và dường như bị rơi vào quên lãng cho đến năm 1961, Mary Douglas Tindale [31] chuyển thêm 2 loài Byrsopteris amabilis (Blume) C. Morton và Byrsopteris aristata (G. Morton vào chi, nhưng các đặc điểm hình thái ông mô tả như cuống lá, vẩy và hình dạng, kết cấu phiến lá. đều không cho thấy sự khác biệt rõ rệt với các chi: Acrorumohra (H.
Itô, Arachniodes, Dryopteris, Leptorumohra (H. Itô, Polystichopsis và Phanerophlebiopsis Ching. Do mang một số đặc điểm chính giống chi Dryopteris Adan và Polystichum Roth (hai chi lớn nhất của họ Ráng cánh bần Dryopteridaceae), nhiều nhà dương xỉ học đã không công nhận và cho rằng chi Ráng thù xỉ không có dấu hiệu hình thái rõ ràng đáng tin cậy để phân biệt nó với 2 chi trên. Do đó, chi Arachniodes đã nhiều lần gộp vào các chi khác như nghiên cứu của Christensen (1905) [9], Copeland (1949) [11] đã gộp chi Arachniodes với chi Polystichum Roth; Copeland (1947) [10], Ching (1934, 1940) [7], [8] gộp nó dưới tên Rumohra Radd; Holttum (1954) [15] gộp vào Polystichopsis (J.) Holttum; Morton (1960) [24] công bố một chi hoàn toàn mới Byrsopteris C.
4 Một loạt các tác giả sau đó đã công nhận chi Ráng thù xỉ là một chi riêng biệt như Tindale (1961) [31], Ching (1962) [5] liệt kê 40 tên loài trong đó. Cùng năm, Ohwi [26] cũng liệt kê 12 cái tên, 10 cái tên trong số đó là sự kết hợp mới nhưng chỉ có 6 loài: A. simplicior (Makino) Ohwi, và A. Tryon (1982) [33] coi Acrorumohra, Arachniodes, Leptorumohra, Phanerophlebiopsis, và Polystichopsis như là các tên đồng nghĩa (synonyms) của Dryopteris trong khi công nhận Lithostegia Ching là chi riêng biệt.
Ngược lại, Kramer và cs. (1990) [18] chấp nhận cả Arachniodes và Lithostegia, và coi Leptorumohra, Phanerophlebiopsis, và Polystichopsis là các tên đồng nghĩa của Arachniodes. Cuối cùng, một số tác giả chấp nhận tất cả chúng là các chi khác nhau (Ching, 1978 [6]; He và Wu, 1996 [12]; Hsieh, 2000 [16]; He, 2004 [13]). Vào năm 1983, Hsieh [17] là tác giả đầu tiên xây dựng hệ thống phân loại cho chi Arachniodes từ 130 loài thuộc chi trong khu vực châu Á, chủ yếu ở Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản.
Dựa vào 12 đặc điểm hình thái, Ông chia chi thành 2 mục- sections (Cavaleria và Arachniodes) dựa trên đặc điểm của vị trí ổ túi bào tử và mép lá, 2 phân mục-subsections (Caudifoliae và Aristatae) dựa trên hình dạng của đỉnh lá chét, 11 series. Sau 17 năm, chính Hsieh (2000) [16] lại phân loại lại các loài trong chi này nhưng nghiên cứu của ông vẫn tương tự năm 1983. Kế tiếp Hseih, trong quá trình nghiên cứu phân loại thực vật của Vân Nam, Trung Quốc, He và Wu (1996) [12] dựa vào các đặc điểm về hình thái đã chia chi thành 4 mục: Sect. Globisorae (5 loài) và Sect.
Năm 2004, lần đầu tiên có công trình nghiên cứu phân loại học chi Arachniodes trên toàn bộ khu vực Trung Quốc được H. He [13] thực hiện. Nghiên cứu của ông dựa trên các đặc điểm hình thái thân rễ, vẩy gốc cuống, vị trí ổ túi bào tử, ông chia chi Arachniodes thành 4 mục như He và Wu (1996) đã đề xuất. He (2004) đã chỉ ra số ít các loài thuộc 3 mục Sect.
Globisorae (5 loài) và Sect. 5 Amoena (2 loài) có thân rễ thẳng, trong khi chủ yếu các loài còn lại thuộc mục- Sect. Arachniodes (50 loài) có thân rễ bò. Arachniodes được chia thành 10 nhóm loài theo các đặc điểm thân rễ, màu sắc vẩy trên gốc cuống, hình dạng và sự phân chia lá chét.
Ông cũng đề xuất loài Trung Mỹ A.) Ching có thể thuộc mục Sect.