Đặt vấn đề Ngày nay xã hội phát triển, các khu đô thị mọc lên ở khắp nơi. Từ thành thị đến nông thôn đều phát triển theo mô hình đô thị hóa. Đời sống người dân cũng được cải thiện rõ rệt. Những ngôi nhà mái ngói phủ rêu được thay thế bằng những ngôi nhà cao tầng san sát nhau làm thu hẹp diện tích đất trồng các loại cây.
Ví dụ như diện tích đất canh tác, hoa màu và diện tích trồng trọt các loại thực vật nói chung tại các khu đô thị đều giảm. Do đó đã có rất nhiều hộ gia đình đã tận dụng khoảng ban công để trồng hoa, cây cảnh để tô điểm thêm cho ngôi nhà của mình. Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu trồng hoa ngày càng tăng nhanh, nhiều loài hoa ban công được ưa chuộng như Thược dược, Đồng tiền, Hoa hồng, hoa Nhài…. Đã được thị trường hoa cảnh coi là nhân tố chính cần được đầu tư, phát triển để mang lại lợi ích kinh tế.
Thược dược có vẻ đẹp sang trọng, nhiều kiểu dáng và màu sắc được yêu thích trên toàn thế giới và được tôn vinh là nữ hoàng của khu vườn mùa thu. Thược dược là biểu tượng chính thức của Mexico, loài hoa của San Francisco, ở Nhật Bản hương vị tuyệt vời của thược dược rất được ưa chuộng. Hoa thược dược đưa vào Việt Nam chỉ có một số giống phù hợp với khí hậu. Hoa Thược dược thường được trưng bày làm hoa tết rất đẹp và nhiều ý nghĩa ví dụ như có ý nghĩa về mặt phong thuỷ, có ý nghĩa về tình yêu biểu tượng cho sự chung thuỷ.
Cây hoa thược dược thuộc loại cây thân thảo, sống lâu năm có tên khoa học Dahlia variabilis, có nguồn gốc từ Mexico. Đối với nhân giống bằng cành thì hệ số nhân thấp, không đồng đều nên chưa đáp ứng nhu cầu khi cần trồng cây có số lượng lớn, đồng loạt. Trong khi đó nuôi cấy mô là một phương pháp hiệu quả trong nhân giống. Nó giúp cây Thược dược tăng nhanh về số lượng và cả chất lượng.
Điều quan trọng, phương pháp này sản xuất ra một số lượng lớn cây giống trong thời gian ngắn, cây sạch bệnh và trồng được quanh năm. Để chủ động trong việc sản suất cây giống và giảm giá thành nên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu nhân in vitro một số giống hoa Thược dược tại Gia Lâm – Hà Nội. Mục đích Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật nhằm góp phần xây dựng được quy trình nhân giống cây Thược dược bằng phương pháp In vitro từ giai đoạn nhân nhanh tới giai đoạn ra rễ trong phòng nuôi cấy mô. Yêu cầu Xác định môi trường thích hợp cho giai đoạn nhân chồi của các giống Thược dược.
Xác định môi trường thích hợp cho giai đoạn ra rễ của một số giống Thược dược. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về cây Thược dược 2. Vị trí phân loại, nguồn gốc, phân bố 2.
Nguồn gốc, phân bố Thược dược có tên khoa học là Dahlia variabilis (Wild. , tên địa phương gốc là Chichipathi hay Aeocothi. Trong tên khoa học, chữ Dahlia là lấy tên nhà thực vật học Thụy Điển Andreas Dah1 (học trò của Carlyon Linne), ông đã đưa củ thược dược vào Châu Âu như một loại thức ăn thời bấy giờ. Thược dược có nguồn gốc từ Mexico ở vĩ độ 20 – 30° Bắc, mọc hoang dại ở các đồi gò, các cao nguyên có độ cao từ 1700 – 1800m so với mặt nước biển.
Vào năm 1963, thược dược còn được chọn làm quốc hoa của Mexico. Bắt đầu từ năm 1979, thược dược được đưa đến trong trong cung của các đời vua chúa tại Tây Ban Nha. Do hoa thược dược có nhiều chủng loại, đẹp, đa sắc màu và được nhiều khách thập phương biết đến nên bắt đầu từ năm 1804, hoa thược dược đã được nhân rộng khắp các nước Châu Âu đặc biệt là Hà Lan. Từ đó đến nay, hoa thược dược đã được nghiên cứu và lai tạo ra nhiều nhóm có tên gọi, màu hoa khác nhau và được trồng rộng rãi khắp trên thế giới.
Tên khoa học Dahlia variabilis Desf. được đặt vào năm 1829 ở Châu Âu để chỉ những loài thược dược đang phát triển lúc đó (Trịnh Văn An, 1995). Thược dược được nhập nội vào Việt Nam đầu thế kỷ XX và ngày càng được trồng rộng rãi, nhất là ở các thành phố, thị xã, thị trấn. Hoa thược dược thường được trồng để thu hoa vào dịp tết Nguyên đán nên rất có giá trị (dẫn theo Nguyễn Thị Thu Thuỳ, 2014).
Phân loại Thược dược thuộc bộ Asterales, họ Asteraceae, chi Dahlia. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 30 loài và trên 20.000 giống thược dược (Nguyễn Nghĩa Thìn & Đặng Thị Sỹ, 2004). Thược dược được phân loại theo hình dạng hoa và sắp xếp các hoa đơn vị. 3 Hoa thược dược đơn: hoa có một vòng hoa hình thìa lìa, cây thường có chiều cao dưới 1m, và đường kính hoa nhỏ hơn 10 cm.
Thược dược đĩa đơn thì một hoa có một vòng hoa hình thìa lìa cách đều nhau. Hoa bán kép: có hai hoa hình thìa lìa xung quanh một đĩa Hoa thược dược kép: có nhiều hàng hoa hình thìa lìa, thân cây tương đối cao và có hoa lớn. Loại hoa kép cũng được phân loại theo kích thước và hình dạng hoa. Thược dược xương rồng: một phần cánh hoa hình ống cong về phía sau hơn một nửa chiều dài cánh hoa.
Thược dược bán xương rồng: trông giống thược dược xương rồng nhưng những cánh hoa rộng ở đầu cánh và đường cong của cánh. Cánh hoa chỉ xoắn lại ở nửa trên của cánh hoa. Tùy từng giống mà độ cong của cánh hoa khác nhau. Thược dược trang trí: dạng hoa thường thấy có đường kính từ 20 đến 30cm.
Cánh hoa phẳng đôi khi hơi xoăn lại với nhiều màu sắc. Thược dược búp tròn: Loại này có những cánh hoa uốn cong từ nhuỵ tới đài hoa, tạo ra dạng hình như một trái banh, cao từ 60cm đến 1m (dẫn theo Nguyễn Thị Thu Thuỳ, 2014). Đặc điểm thực vật học của Thược dược Theo Nguyễn Khắc Trung & Phạm Minh Thu (2002) Rễ: Rễ thược dược thuộc loại rễ bàng ăn ngang nổi, một số rế phình to thường gọi là củ, chứa nhiều chất dự trữ, vì vậy, kỹ thuật làm đất cần chú ý lên luống cao và vun gốc để tạo điều kiện cho rễ phát triển ngang. Thân: Thược dược thuộc thân thảo, mọng nước, yếu, có nhiều đốt, trên các mấu đốt phát sinh cành, lá.
Chiều cao thân tùy giống: có giống cao 1,2 - 1,5m, có giống thấp 0,2 - 0,3m. Vì thân thược dược yếu, cho nên đối với những loại cây có thân cao cần vun gốc, bảo vệ chống đổ. 4 Lá: Lá mọc đối, lá kép, bản lá to, hình dạng biến đổi tùy giống. Cần chú ý đặc điểm lá to này để phát huy khả năng quang hợp của lá, nhằm tăng năng xuất, chất lượng cây.
Hoa: Hoa có hai loại hoa đơn và hoa kép. Giống hoa đơn còn mang tính chất của tổ tiên chỉ có một vòng cánh màu sắc cũng đẹp và đa dạng nhưng ít được ưa chuộng. Giống hoa kép rất đẹp có nhiều hình dáng và màu sắc. Cánh hoa cũng rất đa dạng về hình thái có loại cánh rối (cánh hoa như bị xé nhỏ), có loại cánh xếp như tổ ong, có loại cánh xoăn.
Điều cần chú ý ở hoa thược dược là bao phấn thường chín trước nhụy cho nên hoa không thể tự thụ phấn được mà phải nhờ tác nhân đưa phấn từ hoa này sang hoa khác. Vận dụng đặc điểm này để tiến hành lai tạo lấy hạt gieo trồng sẽ có nhiều giống mới có màu sắc, hình dáng khác nhau. Quả: Thuộc loại quả bế, khô, khi chín vỏ quả màu đen. Mỗi quả trung bình có từ 40 – 60 hạt tùy giống.
Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa Thược dược Theo Nguyễn Thị Thu Thuỳ (2014) thì cây Thược dược cần có điều kiện ngoại cảnh như sau: Đất: Thược dược có bộ rễ ăn ngang nên đòi hỏi đất tốt, đất thịt pha hoặc đất sét pha nhiều màu. Thược dược sẽ phát triển rất tốt trên những loại đất có tầng canh tác dày từ 30 – 35 cm. Nếu đất có tầng đất canh tác mỏng thì cần phải lên luống cao để tăng độ sâu cho bộ rễ hoạt động tốt và tăng chất lượng của củ. Ngoài ra, độ pH của đất phải trung tính, pH = 6-7 là thích hợp nhất.
Ở độ cao 800 – 1500m so với mặt biển, thược dược phát triển tốt, màu sắc hoa đậm đà. Ánh sáng: Thược dược là cây ưa sáng vì vậy ánh sáng mặt trời rất quan trọng để thúc đẩy cây sinh trưởng và ra hoa. Cây thược dược yêu cầu thời gian chiếu sáng tối thiểu từ 8 - 10 giờ ánh sáng trực tiếp hoặc ánh sáng tán xạ. Nếu trồng ở nơi có nhiều ánh sáng không những cây tốt, nhiều hoa, hoa to, màu sắc hoa tươi, đậm đà hơn mà củ cũng dễ bảo quản hơn, qua mùa sau củ ít bị thối.
Ở nơi thiếu ánh sáng thì 5 cây vống cao, yếu, dễ bị đổ, hoa nhỏ, nở hoa không tập chung, củ khó bảo quản, dễ bị thối. Ngoài ra, ở những vùng có 4 mùa thì cần chú ý phải che giảm ánh sáng vào mùa hè hoặc trồng ở nơi có cây bóng mát, tránh ánh sáng trực tiếp. Nhiệt độ: Thược dược ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình không cao quá 30°C và không thấp dưới 10°C. Cây thược dược phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ 20 – 30°C.
Nếu trồng thược dược ở khu vực có nhiệt độ ban ngày luôn vượt quá 32°C cần làm mát vào buổi chiều bằng cách tưới nước sẽ cải thiện chất lượng hoa. Ẩm độ: Đối với cây thược dược độ ẩm đất từ 60 – 70% là tốt nhất. Nếu ẩm độ đất cao trên 80% cây mọc khỏe, lá nhiều tuy nhiên thân cành yếu, dễ đổ gãy và thối củ. Nguồn nước: Cây thược dược không chịu được điều kiện nhiều nước, nơi có mạch nước ngầm cao sẽ làm thối củ.
Nếu đất có mạch nước ngầm cao hoặc là liên tục ướt thì cần chú ý đến hệ thống thoát nước hoặc phải nâng độ cao của luống. Phân bón: Cũng như hầu hết các loại cây hoa thời vụ khác, thược dược cần tỉ lệ N:P:K cân đối, rất ưa phân bắc, nếu bón đầy đủ và cân đối màu hoa sẽ tươi đậm và rực rỡ hơn. Tuy nhiên có nhiều giống như Đỏ Cờ, nhiều phân quá, cây to mập cho hoa kém, giống Cánh Sen, thiếu phân hoặc bón ít không cho hoa được và hay bị bệnh. Nếu tỷ lệ N cao bộ lá sẽ phát triển mạnh, nhưng củ dễ bị thối khi bảo quản.
Nên tăng tỷ lệ K để cây chống được rét, chống hạn và tạo nhiều đường bột cho củ.