Chương 1 NGUỒN LỰC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY Trong những năm qua, khi bàn về các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, bao giờ người ta cũng bàn tới hai vấn đề cơ bản là nguồn lực và động lực phát triển, đặc biệt là nguồn lực. Để thấy được quan niệm thế nào là nguồn lực, làm thế nào tạo ra được nguồn lực và phát huy được các nguồn lực một cách tốt nhất chúng ta cần xuất phát từ việc nghiên cứu bối cảnh trong nước và quốc tế để nhìn nhận trên tinh thần đổi mới tư duy mạnh mẽ hơn nữa. Đây là vấn đề quan trọng phải làm trước tiên để xác lập quan niệm mới về nguồn lực. Nhìn chung, thế giới đang bước vào thời kỳ khó khăn.
Điều đó thể hiện ở những mặt chủ yếu sau đây: Thứ nhất, tình trạng cạn kiệt tài nguyên và khan hiếm nguồn đang đặt loài người vào thế phải tìm cách thoát ra và bứt lên. Sự thiếu hụt các nguồn năng lượng đã làm thế giới chao đảo bởi những cơn tăng giá phi mã đối với giá dầu mỏ, khí đốt; gây nên tình trạng tăng vọt giá đầu vào trên khắp hành tinh. Có chiến lược gia đã dự báo rằng, nếu dân số thế giới tăng khoảng 2%/năm, GDP thế giới tăng khoảng 6%/năm và với công nghệ hiện nay thì hành tinh chúng ta sẽ bị cạn kiệt hoàn toàn tài nguyên vào khoảng sau 20 năm nữa. Dù cảnh báo này chính xác đến đâu thì cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh nhân loại phải có cách nhìn mới về vấn đề, mà gắn liền với nó là cái nhìn mới về nguồn lực và động lực phát triển kinh tế.
Thứ hai, tình trạng thiếu nước nghiêm trọng xảy ra khắp nơi trên Trái Đất, hàng vạn ha đất canh tác bị hạn hán đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đối với việc canh tác của nông dân. Trong mấy tháng vừa qua, tình trạng thiếu lương thực đã làm cho nhiều quốc gia điêu đứng. Thứ ba, tình trạng biến đổi khí hậu đã làm Trái Đất thay đổi quá lớn, nhiệt độ nóng lên, lũ lụt xảy ra trên phạm vi rộng và cường độ lớn hơn trước rất nhiều, hiện tượng tan băng và nước biển dâng cao có thể làm cho nhiều triệu ha đất ở khu vực 7 z ven biển bị chìm trong nước và kéo theo là hàng nhiều triệu người mất chỗ ở phải di chuyển đi nơi khác. Thứ tư, quá trình vừa cạnh tranh, vừa hợp tác diễn ra đan xen và thách thức đối với tất cả các quốc gia, nhất là những quốc gia chậm phát triển, đang ở trình độ phát triển thấp.
Hai vấn đề về chuỗi giá trị toàn cầu và hệ thống phân phối toàn cầu làm đảo lộn những quan niệm về phân công lao động quốc tế và lôi kéo con người vào cuộc trường chinh giành giật các giá trị mới. Như vậy, từ bối cảnh trong nước đòi hỏi đổi mới tư duy về nguồn lực. Lâu nay không có tranh luận lớn về nguồn lực nhưng cách nhìn nhận về nguồn lực vẫn còn chưa nhất quán và thiếu cách nhìn định lượng, chưa quan tâm đúng mức đến việc tranh giành và độc quyền đối với một số nguồn lực nhờ danh nghĩa tổ chức Nhà nước. Việc lãng phí nguồn lực cũng chưa được xem xét đúng mức… PGS.
Ngô Doãn Vịnh – Viện trưởng Viện chiến lược phát triển Việt Nam đã từng đưa ra nhận xét: Các nguồn lực ở nước ta chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả. Chính sách đối với bảo vệ khai thác, sử dụng tài nguyên chưa thỏa đáng. Trong khi Việt Nam thiếu điện, phải nhập từ Trung Quốc thì chúng ta xuất khẩu than sang Trung Quốc mà không dành để phát triển nhiệt điện. Nước ta có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học nhưng những nguồn tài nguyên này chưa được nghiên cứu khai thác thỏa đáng.
Việt Nam là quốc gia không nhiều đất nông nghiệp nhưng tình trạng làm nhà xưởng chỉ có một tầng tràn lan khắp nơi, gây ra tình trạng tốn nhiều đất cho phát triển công nghiệp và dịch vụ. Trong khi quỹ đất để phát triển đô thị không nhiều, khó đến nỗi mà người ta đòi mở rộng Thủ đô Hà Nội nhưng không có chủ trương xây dựng các nhà chung cư cao tầng một cách có kế hoạch hữu ích mà cứ để nhân dân tự xây dựng nhà ở cá nhân tràn lan, hoặc không có chủ trương bắt các doanh nghiệp phải xây dựng nhà cao tầng đối với những trường hợp có thể như các lĩnh vực sản xuất hàng điện tử, hàng may mặc… Bên cạnh đó, Việt Nam đang rất thiếu nhân tài nhưng có rất nhiều người đi học ở nước ngoài xong không về nước phục vụ và cống hiến. Nhiều người chạy ra khỏi cơ quan Nhà nước, đi làm cho các công ty nước ngoài hoặc công ty trong nước có chế 8 z độ đãi ngộ tốt hơn. Việc Việt Nam thu hút nhân tài từ nước ngoài không kèm theo cơ chế chính sách nên vẫn chỉ là ý tưởng.
Với tinh thần đổi mới, chúng ta cần có nhận thức mới theo chiều hướng thực tế, thiết thực hơn, kết hợp định tính với định lượng trong đánh giá tổng quan các nguồn lực cho sự phát triển KT-XH giúp cho nguồn lực mang giá trị đúng của nó để phát triển đất nước nhanh, có chất lượng và bền vững. Cụ thể: Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển. Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem là nguồn lực. Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ.
Có nghĩa là dưới nhiều góc độ người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp. Trong quá trình hoạch định chính sách phát triển, việc tìm ra các nguồn lực, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Vì thế, để có được những cơ chế, chính sách tốt tạo ra các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước thì những cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cần có kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ có kỹ năng nghề nghiệp cao, chuyên trách công việc nghiên cứu về vấn đề này. Dựa trên sự tổng hợp các nhận định về nguồn lực có thể khái quát về nguồn lực như sau: Nguồn lực là tổng hợp các yếu tố “đầu vào” tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia, khu vực và một địa phương.
Nguồn lực là tổng thể vị trí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường… ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định. Trong thời đại hiện nay đối với bất cứ quốc gia nào, việc xác định một cách đúng đắn và huy động có hiệu quả các nguồn lực đều được coi là điều có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chiến lược phát triển KT-XH trong sự nghiệp đổi mới. Vì thế có nhiều lý thuyết coi con người là một loài vốn đặc biệt "tư bản người", "tài nguyên người", "nguồn lực có khả năng tái sinh", "nguồn lực của mọi nguồn lực", "nguồn lực cơ bản", "lực lượng sản xuất hàng đầu". Nhân lực được hiểu là nguồn lực của con người bao gồm: Trí lực, tâm lực, thể lực, năng lực.
Nguồn lực theo 9 z nghĩa rộng là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển KT-XH của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương cụ thể). Có rất nhiều các nguồn lực chính để phát triển KT-XH ở một quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Người ta chia các nguồn lực này thành hai loại: các nguồn phi nhân lực và các nguồn nhân lực. Nguồn phi nhân lực Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, vốn (các nguồn vốn tài chính và công nghệ,.
) là những nguồn phi nhân lực chủ yếu của mỗi một quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Các nguồn phi nhân lực đều có vị trí và vai trò của riêng mình. Thứ nhất: Môi trường tự nhiên (Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên) Mỗi quốc gia có vị trí địa lý khác nhau trên bản đồ địa lý thế giới. Vị trí tự nhiên của một quốc gia ảnh hưởng đến những lợi thế tuyệt đối và tương đối của các quốc gia trong phát triển kinh tế.
Ví như Việt Nam có đường bờ biển dài, khả năng phát triển vận tải biển quốc tế sẽ đem lại cho Việt Nam có lợi thế hơn Lào và Campuchia trong tham gia thương mại quốc tế. Việt Nam có thể phát triển vùng cảng biển trở thành các trạm trung chuyển hàng hoá từ các quốc gia khác vào khu vực 3 nước Lào, Campuchia, Việt Nam và ngược lại. Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến nguồn lực đầu vào của nhiều ngành công nghiệp. Điều kiện tự nhiên của các quốc gia cũng quyết định nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia.
Môi trường tự nhiên tạo nên lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối giữa quốc gia này với quốc gia kia. Nước ta có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên. Ở trình độ phát triển kinh tế như hiện nay, tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng. Việt Nam có khoảng 8,0 triệu ha đất nông nghiệp, bao gồm đất ở đồng bằng, ở các bồn địa giữa núi, ở đồi núi thấp và các cao nguyên.
Nguồn nhiệt ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, số lượng các giống loài động, thực vật biển và trên cạn khá phong phú, nguồn khoáng sản đa dạng v.v… là những 10 z thuận lợi mà thiên nhiên đã dành cho chúng ta. Đặc biệt, nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú là một lợi thế lớn của Việt Nam. Irăc có nguồn dầu mỏ dồi dào nhờ đó có khả năng phát triển kinh tế thông qua xuất khẩu dầu mỏ. Singapore bốn phía là biển đã trở thành quốc gia có hệ thống kho hàng và đội tàu vận tải quốc tế mạnh nhất thế giới.
Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên khí hậu ảnh hưởng đến cơ cấu hàng hoá tiêu dùng trên mỗi khu vực thị trường. Khí hậu bốn mùa, cơ cấu hàng hoá mang tính mùa vụ tăng cao hơn so với khu vực có khí hậu phân chia hai mùa. Mặt khác, vòng đời các sản phẩm mùa vụ lại ngắn hơn.