CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẤT NỀN Ở ĐỒNG NAI VÀ CÁC KẾT QUẢ ĐÃ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG 1. Vị trí địa lý [20]: Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và thềm lục địa Việt Nam, có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Tỉnh Đồng Nai có điều kiện tự nhiên phân hóa đa dạng với những nét độc đáo về địa hình, cảnh quan và tài nguyên thiên nhiên. Vị trí địa lý đặc biệt đã đem lại nhiều lợi thế so với các tỉnh khác trong cả nước. Nằm trong các trục giao thông quan trọng của khu vực, Đồng Nai có lợi thế giao lưu hàng hóa với 3 tỉnh, thành còn lại của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là cửa ngõ mở ra phía bắc của Vùng này.
Tọa độ địa lý tỉnh Đồng Nai: từ 10031’17” đến 11034’49” vĩ Bắc và từ 106044’45” đến 107034’50” kinh Đông. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 589,640Ha, là tỉnh có diện tích lớn nhất vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Về ranh giới hành chính, Đồng Nai có vị trí địa lý rất thuận lợi: giáp các tỉnh Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Thuận, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu và Tp. Đồng Nai có vị trí địa lý rất thuận lợi được bao bởi các tỉnh và thành sau (hình 1.1): - Đông giáp với Bình Thuận.
- Đông Bắc giáp với Lâm Đồng. - Tây Bắc giáp Bình Dương, Bình Phước. - Tây giáp Tp. Hồ Chí Minh.
- Nam giáp Bà Rịa – Vũng Tàu.1 Bản đồ đất ranh giới hành chính tỉnh Đồng Nai. Đồng Nai có hệ thống giao thông thủy bộ, đường sắt nối liền với các địa phương khác trong cả nước, có sân bay quân sự Biên Hòa; là địa bàn trọng yếu về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng, có vị trí quan trọng trong sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai đã 6 tận dụng được những lợi thế so sánh của vùng và của tỉnh trong công cuộc đổi mới và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đặc điểm tự nhiên [20] 1.
Đặc điểm địa hình: Tỉnh Đồng Nai tương đối đa dạng về mặt địa hình và có xu hướng thấp dần theo hướng Bắc – Nam, bao gồm dạng núi thấp có độ dốc cao (20-300); dạng đồi lượn sóng cao từ 20-150 mét chiếm diện tích lớn nhất; và địa hình đồng bằng gồm các bậc thềm sông và các trầm tích đầm lầy biển cổ. - Địa hình núi thấp: bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của các dải núi Trường sơn, từ Tây nguyên đổ xuống, với độ cao thay đổi từ 200-700 mét. Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía Bắc (Tân Phú) giáp ranh Lân Đồng và một phần núi sót ở Định Quán, Xuân Lộc. - Địa hình đồi lượn sóng: có độ cao từ 20-200 mét, bao gồm những đồi đất Bazan và những đồi phù sa cổ, tạo thành cái chùy chạy theo hướng Bắc – Nam trái ngược với dạng địa hình núi thấp.
Dạng địa hình này khá bằng phẳng, thoải, độ dốc dao động 3- 80. Đây là dạng địa hình chiếm diện tích lớn nhất (bảng 1. - Địa hình đồng bằng là bậc thềm sông, có diện tích không lớn lắm.1: Diện tích đất theo độ dốc (Báo cáo điều tra bổ sung năm 2004) [12] Độ dốc Diện tích (ha) Tỷ lệ <80 440,721 74.76% Sự đa dạng của địa hình một mặt là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của tỉnh, nhất là nông nghiệp. Mặt khác cũng là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự suy thoái đất đai: Dạng địa hình đồi lượn sóng là nơi đất bị xói mòn bề mặt lớn nhất, cũng là nơi phân bố chủ yếu của đất đỏ bazan và đất xám.
Dạng địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển cổ rất giàu sunlfua là vật liệu để sinh ra đất phèn. Đặc điểm địa chất đất nền đường: a/ Các tầng cấu trúc chính của khu vực nghiên cứu như sau [20]: Tầng cấu trúc dưới: Tầng này được cấu tạo bởi nhóm đá cứng có nguồn gốc và tuổi khác nhau, thành phần của chúng gồm các loại đá sau: - Đá trầm tích xen phun trào hệ tầng Châu Thới – Trias trung: lộ ra ở Bửu Long – Biên Hòa, Hóa An, Bửu Hòa. Thành phần thạch học bao gồm cuội đa khoáng màu xám xanh, đa xit màu xám sáng, phiến sét màu xám đen và bột kết, cát kết phân lớp mỏng đến trung bình. Bề dày khoảng 200 mét.
- Đá trầm tích lục nguyên hệ tầng Draylinh – Jura thượng: lộ ra ở Trị An, Tân An, Thiện Tân kéo sang bắc Hố Nai và rải rác dọc sông Buông. Thành phần gồm sét két, bột kết màu xám đen, xám xanh phân lớp xiên chéo và nứt nẻ. Bề dày lớn hơn 250 mét. - Đá trầm tích lục nguyên hệ tầng Long Bình – Jura thượng – Kreta: lộ ra ở Bình ý, phía bắc sân bay Biên Hòa, với phạm vi hẹp từ Biên Hòa xuống Long Thành, gặp chúng trong các lỗ khoan sâu.
Thành phần thạch học gồm đa xit, andezit, riođaxit, anđezitobazan màu xám xanh lục nhạt xen các tập mỏng cát bột kết, cát kết, sét bột kết màu đỏ và sét trôi màu xám nhạt. Đá bị vỡ vụn nứt nẻ nhiều, có chứa các mạch thạch anh, caxit lấp đầy khe nứt, dày 350m. - Sự có mặt của ba loại đất trên trong móng cấu trúc dưới tạo nên vững chắc để tích tụ các vật liệu trẻ hơn. Tấng cấu trúc dưới có khả năng chịu rất tốt làm nền thiên nhiên cho các loại công trình khác nhau.
Tầng cấu trúc giữa: Tầng cấu trúc này được cấu tạo bởi các trầm tích bở rời gắn kết yếu có nguồn gốc sông, sông biển hỗn hợp thuộc đới Kainozoi chia làm hai phụ tầng cấu trúc: - Phụ tầng cấu trúc dưới: Phụ tầng này gồm các trầm tích bở rời Pliocen, lộ ra ở các đáy sườn dốc của các đồi, thềm cao ở Long Bình, Bà Miễu, Phước Tân, Long Thành. Đồng thời gặp chúng trong các lỗ khoan địa chất công trình, địa chất thủy văn ở độ sâu 10-20 mét. Thành phần gồm các lớp hạt thô, xen các lớp hạt mịn thường có màu đỏ xám trắng loang lổ, bị phong hóa laterit, chúng là đới chịu tải tốt cho các công trình khác nhau. Phụ tầng cấu trúc này nằm trực tiếp lên tầng cấu trúc dưới (nhóm đá cứng), bề dày thay đổi từ 10-50 mét.
8 - Phụ tầng trên: Phụ tầng này cấu trúc bở rời nguồn gốc sông, sông biển, phun trào bazan pleistocen phân bố rộng rãi các vùng. Thành phần gồm bốn tầng từ dưới lên: Thành phần gồm sét, sét pha cát, cát cuội sỏi và đá bazan. Đới này có diện phân bố rộng, chúng là đới chịu tải tốt, làm nền cho các công trình xây dựng khác nhau. Chiều dày thay đổi từ 10-20 mét.
Tầng cấu trúc trên: Tầng này cấu tạo bởi các trầm tích Holocen nhiều nguồn gốc, phủ trực tiếp lên tầng cấu trúc dưới và giữa. Chúng phân bố dọc sông Đồng Nai và một số suối nhỏ khác trong vùng. Thành phần gồm nhóm đất dính tuổi Holocen nguồn gốc sông, sông biển hỗn hợp và nhóm đất có thành phần, trạng thái và tính chất đặc biệt. Do đặc điểm phân bố của các trầm tích này mà nhiều công trình xây dựng trên chúng, khi thiết kế xây dựng những công trình đó cần phải nghiên cứu chiều sâu phân bố, chiều dày của các lớp đất yếu và có biện pháp gia cố móng đặc biệt.
Chiều dày tầng cấu trúc thay đổi từ vài mét đến 30 mét. b/ Tài nguyên đất [12]: Năm 1993-1996, Sở Khoa học công nghệ tỉnh Đồng Nai cho tiến hành thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá đất đai theo phương pháp FAO/UNESCO, trên bản đồ tỷ lệ 1/50. Trên bản đồ đất toàn tỉnh có 589,640Ha được chia thành 10 nhóm đất chính sau: 1. Nhóm đất phù sa có diện tích 27,929 ha, chiếm 4.76% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các khu vực đồng bằng ven sông Đồng Nai và cát phẳng thủy triều miền duyên hải, thuộc các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu và thành phố Biên Hòa.
Nhóm đất Gley có diện tích 26,758 ha, chiếm 4.56% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố trong các thung lũng vùng núi, ngập nước theo mùa hoặc các khu vực đồng bằng thấp xa sông; thuộc các huyện Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu, Long Thành và Nhơn Trạch. Đất tầng mỏng có diện tích 3,180 ha, chiếm 0.54% tổng diện tích đất tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở các khu vực núi dốc thuộc huyện Xuân Lộc và ít diện tích đất đồi ở Biên Hòa.
Đất cát có diện tích 613 ha, chiếm 0.10% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố thành các dải hẹp - kéo dài, ở phía Nam huyện Nhơn Trạch, phần tiếp giáp giữa bậc thềm phù sa cổ và trầm tích biển trẻ. Đất đá bọt có diện tích 2,422ha, chiếm 0.41% tổng diện tích đất tự nhiên. Phân bố rải rác ở các khu vực miệng núi lửa, thuộc huyện Định Quán, Tân Phú, Thống Nhất, Long Khánh và Xuân Lộc.
Đất đen có diện tích 131,605ha, chiếm 22.44% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố thành các vùng khá rộng lớn, quanh các khu vực miệng núi lửa, có địa hình thay đổi từ khá bằng phẳng đến dốc vừa; thuộc các huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Long Khánh, Thống Nhất và Long Thành. Đất nâu có 11,377 ha, chiếm 1.94% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố ở dạng đồi thấp, ít dốc hoặc bậc thềm thấp; ở phía Đông huyện Xuân Lộc.
Đất xám có diện tích lớn nhất vùng điều tra với 234,864ha, chiếm 40.05% tổng diện tích đất tự nhiên. Phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau, từ những dạng bằng thấp ven hợp thủy, các bậc thềm khá bằng phẳng, các dạng đồi thấp thoải đến địa hình núi cao dốc. Về phân bố không gian, đất xám có trong hầu hết các huyện ở Đồng Nai; tập trung nhiều ở Vĩnh Cửu, Long Thành và Nhơn Trạch. Đất đỏ có 95,389ha, chiếm 16.27% tổng diện tích tự nhiên.
Phân bố chủ yếu ở các dạng đồi núi thấp, ít dốc đến dốc vừa; tập trung nhiều ở các huyện Long Khánh, Thống Nhất, Xuân Lộc, Định Quán, Bắc Vĩnh Cửu và Tây Bắc Tân Phú. Đất loang lổ chỉ có diện tích 139 ha, chiếm 0.02% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở vùng chuyển tiếp giữa bậc thềm phù sa cổ và mới; thuộc thành phố Biên Hoà và huyện Long Thành. Năm 2004, Chương trình “Điều tra bổ sung, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/50,000-1/100,000 các tỉnh vùng Đông Nam Bộ” do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp thực hiện năm 2004; Bản đồ đất tỉnh Đồng Nai tỷ lệ 1/100,000 được xây dựng.