Luận văn: Nghiên cứu thiết kế mạng truyền tải quang theo hướng phát triển NGN

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu xây dựng mạng truyền tải quang NGON. Giải pháp phát triển mạng lưới hiệu quả, đáp ứng nhu cầu băng thông rộng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2006

135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG TRUYỀN TẢI VÀ PHƢƠNG THỨC TRUYỀN DẪN THEO MẠNG THẾ HỆ SAU

1.1. TỔNG QUAN MẠNG TRUYỀN TẢI QUANG

1.2. Cấu trúc mạng truyền tải truyền thống

1.3. Lớp truyền dẫn quang

1.4. Dịch vụ ghép kênh SDH/SONET

1.4.1. Chuẩn truyền dẫn đồng bộ

1.4.2. Cơ chế tạo khung và ghép kênh của SDH và SONET

1.5. Mạng truyền tải SDH/SONET

1.6. Mode truyền dẫn không đồng bộ ATM

1.7. MẠNG TRUYỀN TẢI THẾ HỆ SAU

1.8. Các phƣơng thức truyền tải lƣu lƣợng IP

1.9. Truyền tải gói động (DPT)

1.10. So sánh và đánh giá các giải pháp tích hợp IP quang

2. CHƢƠNG 2 CẤU TRÚC VÀ CÔNG NGHỆ MẠNG TRUYỀN TẢI WDM

2.1. KỸ THUẬT WDM

2.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG NGHỆ DWDM

2.3. PHÂN LOẠI HỆ THỐNG TRUYỀN DẪN WDM

2.4. CÁC CẤU TRÚC CƠ BẢN CHO MẠNG WDM

2.4.1. Cấu trúc điểm-điểm

2.4.2. Cấu trúc ring

2.4.3. Cấu trúc mạng hình lƣới

2.5. CÁC THIẾT BỊ SỬ DỤNG TRONG HỆ THỐNG WDM

2.5.1. Nguồn phát quang

2.5.2. Thiết bị thu quang

2.5.3. Phần tử tách ghép kênh

2.5.4. Khuếch đại quang

2.6. CÔNG NGHỆ THIẾT BỊ DÙNG TRONG MẠNG TRUYỀN TẢI QUANG

2.6.1. Thiết bị cuối đƣờng quang OLT

2.6.2. Bộ xen/rẽ quang OADM

2.6.3. Thiết bị kết nối chéo quang OXC

2.7. ỨNG DỤNG HỆ THỐNG WDM TRONG MẠNG TRUYỀN TẢI THOẢ MÃN TIÊU CHUẨN HỆ THỐNG

2.8. KHÔI PHỤC MẠNG QUANG

2.8.1. Bảo vệ quang

2.8.2. Bảo vệ đƣờng truyền quang

2.8.3. Bảo vệ kênh quang

2.8.4. Bảo vệ đoạn ghép kênh quang

2.8.5. Phục hồi lớp dịch vụ

3. CHƢƠNG 3 THIẾT KẾ MẠNG WDM

3.1. TỔNG QUAN THIẾT KẾ MẠNG QUANG

3.2. TÍNH TOÁN TỐI ƢU CHO TUYẾN TRUYỀN DẪN WDM ĐIỂM- ĐIỂM

3.3. THIẾT KẾ TUYẾN TRUYỀN DẪN SỬ DỤNG KỸ THUẬT BÙ TÁN SẮC

3.4. THIẾT KẾ DỰA VÀO OSNR VÀ TÁN SẮC

3.5. ẢNH HƢỞNG CỦA FWM VÀ XPM TRONG VIỆC THIẾT KẾ CÁC TUYẾN TRUYỀN DẪN ĐƢỜNG DÀI

3.6. THIẾT KẾ MẠNG TRUYỀN TẢI QUANG CÓ SỬ DỤNG CÁC THIẾT BỊ NỐI CHÉO QUANG

3.6.1. Mô hình xác định

3.7. CÁC TRƢỜNG HỢP CỤ THỂ

4. CHƢƠNG 4 XÂY DỰNG CẤU TRÚC MẠNG TRUYỀN TẢI QUANG PHỤC PHỤ TRIỂN KHAI MẠNG NGN TẠI VIỆT NAM

4.1. TỔ CHỨC VÀ ĐỊNH HƢỚNG CHO CẤU TRÚC MẠNG NGN CỦA VIỆT NAM

4.2. Mục tiêu xây dựng mạng truyền tải đƣờng trục, mạng truy nhập cho NGN Việt Nam

4.2.1. Đánh giá hiện trạng và cấu trúc mạng truyền dẫn đƣờng trục đơn kênh ở Việt Nam

4.3. Đánh giá khả năng của hệ thống truyền quang đang sử dụng theo hƣớng phục vụ cho NGN

4.4. Đánh giá về khả năng truyền tải lƣu lƣợng

4.5. Định hƣớng xây dựng mạng truyền tải đƣờng trục quốc gia

4.6. XÂY DỰNG MẠNG TRUYỀN DẪN ĐƢỜNG TRỤC QUỐC GIA HƢỚNG TỚI MẠNG NGN VÀ CÁC CÔNG NGHỆ LIÊN QUAN

4.7. KÉT NỐI MẠNG TRUYỀN TẢI QUANG NGN

4.7.1. Các giải pháp kỹ thuật kết nối

4.7.2. Cấu hình và kết nối mạng truyền tải tiến tới NGN

4.8. Khai thác mạng truyền tải đƣờng trục WDM ở Việt Nam

4.9. THIẾT KẾ, TÍNH TOÁN TUYẾN THÔNG TIN QUANG WDM TRONG MẠNG TRUYỀN TẢI QUANG

4.9.1. Phƣơng pháp tính toán

4.9.2. Áp dụng tính toán tuyến truyền dẫn

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Mạng Truyền Tải Quang NGN Luận Văn Thạc Sĩ

Trong bối cảnh xã hội phát triển nhanh chóng, nhu cầu thông tin ngày càng tăng cao, đặc biệt là trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Hiện tại và trong tương lai gần, nhu cầu về các dịch vụ thoại, phi thoại, Internet và các dịch vụ băng rộng ngày càng trở nên thiết yếu. Để đáp ứng nhu cầu này, mạng viễn thông cần phải có cấu trúc hiện đại, linh hoạt, đáp ứng mọi yêu cầu về truyền tải lưu lượng lớn và cung cấp đa dạng dịch vụ. Mạng lưới phải được tổ chức đơn giản nhưng đảm bảo an toàn và bảo mật cao. Trên thực tế, mạng viễn thông nói chung và mạng truyền dẫn nói riêng đã có những bước tiến đáng kể nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ mới và nhu cầu ngày càng cao của người dùng. Tuy nhiên, trong tương lai, mạng truyền dẫn không chỉ đơn thuần đáp ứng nhu cầu truyền tải lưu lượng mà còn phải đáp ứng những yêu cầu mới, như cấu trúc mạng đơn giản, công nghệ tiên tiến, khả năng đáp ứng mọi yêu cầu dịch vụ với độ thông suốt cao, an toàn tuyệt đối và đặc biệt là tính linh hoạt cao. Công nghệ mạng đã trải qua nhiều giai đoạn chuyển đổi, từ tương tự sang số, từ phân cấp cận đồng bộ (PDH) sang phân cấp số đồng bộ (SDH) và gần đây là từ SDH sang WDM (ghép kênh theo bước sóng). Mặc dù khả năng truyền tải lưu lượng của mạng hiện tại đã tăng lên đáng kể, nhưng vẫn chưa đáp ứng hết nhu cầu của người dùng. Khi dung lượng tăng mạnh, đặc biệt là sự gia tăng dung lượng Internet, cấu trúc mạng dựa trên truyền tải tín hiệu điện dần trở nên không phù hợp và cần chuyển sang công nghệ truyền dẫn quang. Mạng truyền tải quang sử dụng công nghệ WDM có khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên. Việc áp dụng công nghệ này là một xu hướng tất yếu trong sự phát triển của mạng truyền tải. Với tiềm năng lớn về công nghệ thông tin quang, mạng truyền tải quang được xem là mạng truyền dẫn duy nhất có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu khắt khe trong việc truyền tải và cung cấp dịch vụ viễn thông hiện tại và trong tương lai. Để thực hiện được điều này, mạng truyền tải quang được phát triển theo hướng tạo ra một mạng truyền tải có năng lực cao, phục vụ cho nhu cầu phát triển của mạng viễn thông khi chuyển sang mạng thế hệ sau (NGN). Tuy nhiên, để nghiên cứu cấu trúc và công nghệ mạng truyền tải này, cần phải giải quyết nhiều khía cạnh để hoàn thiện các đặc tính như công nghệ ghép bước sóng quang, kỹ thuật truyền tải IP trên môi trường quang, kỹ thuật bảo vệ luồng quang, phương pháp thiết kế mạng truyền tải quang, các kỹ thuật định tuyến và gán bước sóng quang. Các kỹ thuật này cho phép xây dựng một mạng truyền tải đáp ứng các yêu cầu trên. Với ý nghĩa đó, đề tài: “Nghiên cứu, xây dựng mạng truyền tải quang theo hướng phát triển mạng thế hệ sau (NGN)” được trình bày trong luận văn là cần thiết.

1.1. Mạng Truyền Tải Quang Truyền Thống Cấu Trúc Đa Lớp

Cấu trúc mạng truyền tải truyền thống thường được xây dựng trên cấu trúc đa lớp. Các lớp này có thể được thể hiện ở hình 1 (trong tài liệu gốc). Trong đó, lớp truyền tải quang được sử dụng làm môi trường truyền dẫn với những ưu điểm vượt trội về băng thông. Tuy nhiên, hiện tại lớp truyền dẫn quang này vẫn chưa có các hệ thống định tuyến thông minh. Để phân phối băng thông hiệu quả, lớp SDH/SONET được sử dụng rộng rãi với khả năng sử dụng băng thông hợp lý và cơ chế bảo vệ thông minh. Ở trên lớp này, lớp ATM được sử dụng như là một tùy chọn, cung cấp cơ chế hợp kênh thống kê và khả năng tích hợp nhiều loại hình dịch vụ tại cùng một thời điểm. ATM cũng làm tăng cường sự phối hợp và tính khả dụng của các lớp dưới nó (lớp SDH/SONET, lớp quang). Thêm nữa, ATM định nghĩa một cơ chế định tuyến để tối ưu hóa lưu lượng được phân phối qua mạng, cung cấp các dịch vụ với chất lượng dịch vụ QoS khác nhau. Nếu các nhà cung cấp dịch vụ không sử dụng các dịch vụ dựa trên nền IP thì cấu trúc mạng sẽ còn lại gồm 3 lớp sẽ tỏ ra hữu hiệu hơn. Do các ứng dụng dựa trên nền IP sẽ làm tăng các dịch vụ IP trên mạng, một số cơ chế tích hợp IP với cấu trúc hệ thống đã được đưa ra trong đó MPLS tỏ ra là một cấu trúc có tính hiệu quả cao. Cấu trúc mạng dựa trên các lớp được phát triển và thay đổi khi các nhà cung cấp dịch vụ thay đổi các công nghệ mạng.

1.2. Kỹ Thuật Ghép Kênh SDH SONET Giải Pháp Cho PDH

SDH/SONET đã khắc phục những hạn chế của PDH và cho phép kết nối với tốc độ bit cao trên 155Mbps. Những kết nối này phù hợp với yêu cầu gia tăng tốc độ truyền dẫn dữ liệu cần thiết ngày nay. SDH/SONET cho phép triển khai mạng TDM trên lớp truyền tải quang. Cả SDH/SONET đều định nghĩa phân cấp hợp kênh số, đảm bảo tính tương thích của các thiết bị và cho phép thiết lập mạng đồng bộ. Các chức năng chính là tín hiệu khách của các dịch vụ khác nhau như là E0, E1, DS0, DS1, T1, ATM, và nhiều loại khác nữa được ghép vào các ngăn chứa (payload) thích hợp và sau đó được ghép kênh vào tín hiệu quang đồng bộ. Cả SDH và SONET có thể chứa các cấu trúc TDM không đồng bộ, SDH dựa trên các tín hiệu E1, còn SONET dựa trên tín hiệu DS1. Tốc độ cơ sở của SONET là 51.84Mbps hay còn được gọi là tín hiệu truyền tải đồng bộ (STS-1), tương đương với tín hiệu OC-1 của lớp quang. Để bảo đảm cả SONET và SDH có thể kết hợp trong một cơ chế hợp kênh chung, SDH định nghĩa cấp độ cơ sở của nó là STM-1 bằng 3 lần cấp độ cơ sở của SONET tức là 155.1.

II. Mạng Truyền Tải Thế Hệ Sau NGN Hướng Tới IP Quang

Giao thức Internet (IP) đã trở thành giao thức chuẩn phổ biến cho các dịch vụ mạng mới, do đó lưu lượng IP sẽ tăng nhanh và thay thế cho các giao thức khác. Trong khi IP được xem như là công nghệ mạng phổ biến thì công nghệ quang tiên tiến cho phép truyền tải dung lượng lớn. Với dung lượng truyền dẫn lớn nhờ kỹ thuật DWDM và khả năng cấu hình mềm dẻo nhờ bộ nối chéo quang OXC đã cho phép xây dựng các mạng quang linh hoạt hơn. Nhờ đó các kết nối luồng quang có thể được thiết lập theo nhu cầu. Một trong những thách thức quan trọng đó là điều khiển luồng này tức là phát triển các cơ chế các thuật toán cho phép thiết lập các luồng quang nhanh, hiệu quả về băng tần và cung cấp khả năng phục hồi khi có sự cố mà vẫn đảm bảo được tính tương thích giữa các thiết bị của các nhà cung cấp khác nhau. Nguyên nhân chủ yếu của sự phức tạp trong điều hành quản lý mạng chính là sự phân lớp của mạng truyền thống. Các cấu trúc mạng truyền thống có nhiều lớp mạng độc lập với nhiều chức năng chồng chéo nhau, thường xuyên có sự mâu thuẫn lẫn nhau và có phương thức khác nhau. Vì vậy một trong những giải pháp để giảm chi phí xây dựng và quản lý mạng đó là giảm bớt số lớp giao thức. Khi dung lượng và khả năng kết nối mạng trong cả công nghệ IP và quang tăng lên thì cần tối ưu mạng IP và bỏ qua tất cả các lớp trung gian để tạo nên một mạng hiệu quả và mềm dẻo. Tuy nhiên, các lớp trung gian này cung cấp một số các khả năng có giá trị cao như kỹ thuật lưu lượng TE và cơ cấu phục hồi hệ thống khi có sự cố như ở SDH/SONET; các cơ cấu này đã được kiểm tra tính hữu hiệu thông qua thực tế. Như vậy, những chức năng này cần phải được giữ lại trong mạng IP/quang bằng cách đưa chúng lên lớp IP hoặc xuống dưới lớp quang hay tốt nhất là tạo thành một lớp riêng.

2.1. Các Phương Thức Truyền Tải Lưu Lượng IP Hiệu Quả

Kết hợp công nghệ IP và WDM trên cùng một cơ sở hạ tầng là vấn đề được nhiều nhà kiến trúc mạng quan tâm. Có nhiều phương pháp để truyền tải lưu lượng IP thông qua môi trường sợi quang. Nội dung của chúng đều tập trung vào việc giảm thiểu kích thước mào đầu khi đi qua các lớp trung gian trong khi vẫn phải bảo đảm cung cấp chất lượng dịch vụ với các QoS hay CoS yêu cầu, và độ khả dụng cũng như tính bảo mật của mạng cao. Có hai xu hướng cho sự chuyển đổi này đó là, thứ nhất vẫn dữ lại các công nghệ cũ, dàn xếp các tính năng phù hợp cho các lớp mạng trung gian như ATM, SDH/SONET để truyền tải gói IP trên mạng WDM hoặc tạo ra công nghệ và giao thức mới. Đối với kiến trúc mạng IP được xây dựng dựa vào các công nghệ như ATM, SDH, WDM , do có nhiều lớp liên quan nên tồn tại nhiều dư thừa trong mạng khiến cho việc quản lý và điều hành phức tạp, tốn kém. Hơn nữa kiến trúc này sử dụng chủ yếu để cung cấp các cho các dịch vụ thoại và thuê kênh. Bởi vậy, nó không còn phù hợp cho các loại dịch vụ chuyển mạch gói mà được thiết kế tối ưu cho việc truyền số liệu và truyền tải lưu lượng IP.

2.2. Kiến Trúc IP ATM SDH WDM Giải Pháp Toàn Diện Cho NGN

Kiểu này được sử dụng rộng rãi trong các mạng trục ngày nay. ATM đã được chuẩn hoá. Công nghệ này cung cấp nhiều tính năng rất mạnh cho việc thiết kế lưu lượng và cả QoS lẫn CoS. Các gói IP được phân tách trong tế bào ATM và được gán vào các kết nối ảo VC qua card đường truyền SDH/ATM trong bộ định tuyến IP. Tiếp đến các tế bào ATM được ghép vào khung SDH và được gửi tới chuyển mạch ATM hoặc trực tiếp tới bộ chuyển đổi WDM để chuyển tải qua lớp mạng quang như hình 1.7. Hiện tại cách thực hiện bảo đảm QoS cho dịch vụ IP là cung cấp băng tần cố định giữa các cặp thiết bị định tuyến IP cho từng khách hàng (quản lý QoS lớp 2). ATM thực hiện điều này với tính hạt băng tần thay đổi nhờ các kênh ảo cố định (PVC) qua hệ thống quản lý ATM hoặc thiết lập kênh chuyển mạch ảo (SVC) linh hoạt, tất cả nằm trong luồng ảo (VP). Hoặc cũng có thể sử dụng phương pháp ghép kênh thống kê cho phép người dùng có thể truy nhập băng tần phụ trong một khoảng thời gian ngắn.

III. Nghiên Cứu Công Nghệ Truyền Tải WDM Luận Văn Thạc Sĩ

Trong các hệ thống thông tin quang truyền dẫn số, các luồng tín hiệu ở cấp thấp sẽ được ghép lại với nhau dựa trên kỹ thuật ghép kênh phân chia theo thời gian TDM (Time Division Multiplexing) để tạo ra các tín hiệu ở cấp cao hơn, sau đó luồng tín hiệu này được truyền dẫn trên sợi quang. Như vậy đối với hệ thống thông tin quang bình thường sẽ có một luồng tín hiệu quang truyền trên một sợi cho một hướng thông tin, và để có hướng ngược lại thì cần có một luồng tín hiệu quang trên sợi thứ hai. Hệ thống quang như vậy gọi là hệ thống thông tin quang đơn kênh. Trong vài vài năm trở lại đây, công nghệ thông tin quang đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể có thể tạo ra các hệ thống thông tin quang hiện đại với dung lượng cao và truyền dẫn trên cự ly xa. Nổi bật nhất là các hệ thống thông tin quang sử dụng kỹ thuật ghép kênh quang. Trong hệ thống này, cùng một lúc ta có thể truyền nhiều luồng tín hiệu quang trên một sợi nhằm mục đích tăng dung lượng của kênh truyền dẫn. Các hệ thống này được gọi là hệ hống thông tin quang nhiều kênh. Trong thực tế của hệ thống thông tin quang đơn kênh, khi tốc độ đường truyền đạt tới mức độ nào đó người ta thấy hạn chế của các mạch điện trong việc nâng cao tốc độ cũng như kéo dài cự ly truyền dẫn. Khi tốc độ truyền dẫn đạt tới hàng trục, bản thân các mạch điện tử cũng không thể đảm bảo đáp ứng được xung tín hiệu cực kỳ hẹp; thêm vào đó, chi phí cho các giải pháp trên tuyến truyền dẫn trở nên tốn kém vì cấu trúc hệ thống quá phức tạp đòi hỏi công nghệ rất cao. Do đó, kỹ thuật ghép kênh quang đã ra đời nhằm khắc phục những hạn chế trên.

3.1. Kỹ Thuật WDM Tối Ưu Hóa Băng Thông Sợi Quang

Trong các hệ thống truyền dẫn thông thường, một kênh đơn có thể sử dụng để kết hợp nhiều kênh với tốc độ bit thấp để tạo thành kênh có tốc độ bit cao hơn. Phương phức ghép kênh phân chia theo thời gian (TDM) có thể thực hiện ở cả môi trường điện lẫn môi trường quang học. Trong hệ TDM, mỗi kênh tốc độ bit thấp truyền bit hay một nhóm bit (gói) ở khe thời gian ấn định cho nó và nó đợi đến lượt khe thời gian của nó để truyền các bit hay gói tiếp theo của nó sau khi các kênh khác đã truyền các bit hay gói của nó. Ngày nay, việc sử dụng hệ thống TDM khá phổ biến và có thể thiết lập mạng TDM ở tốc độ cỡ 10Gbps. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, cơ chế này không tận dụng được phần dải thông của sợi quang do giới hạn về tốc độ của các thiết bị phân kênh và ghép kênh theo thời gian. Hơn thế nữa truyền dẫn ở tốc độ cao sẽ bị giới hạn bởi hiện tượng tán sắc và không tuyến tính của sợi quang. Để tận dụng dải thông của sợi quang, chúng ta cần có giải pháp hỗ trợ hay thay thế cho TDM.

3.2. Công Nghệ DWDM Ưu Điểm Vượt Trội Trong Truyền Dẫn

Truyền dẫn sử dụng công nghệ WDM có nhiều ưu điểm nổi bật, trong đó đáng chú ý là các đặc điểm sau: Công nghệ DWDM được lựa chọn sử dụng trong các mạng đô thị, mạng đường trục hay cáp quang biển là do các đặc tính ưu việt của nó. Trước hết công nghệ này cho phép có thể đạt được dung lượng truyền dẫn lớn. Hệ thống WDM có thể mang nhiều kênh quang, mỗi kênh quang ứng với tốc độ bit nào đó. Do đó hệ thống WDM có dung lượng truyền dẫn lớn hơn nhiều so với các hệ thống TDM. Hiện nay hệ thống WDM 80 bước sóng với mỗi bước sóng mang tín hiệu TDM 2,5Gbit/s, tổng dung lượng hệ thống sẽ là 200Gbit/s đã được thử nghiệm thành công. Trong khi đó thử nghiệm hệ thống TDM, tốc độ bit mới chỉ đạt tới STM-256 (40Gbit/s).

IV. Phân Loại Hệ Thống Truyền Dẫn WDM Luận Văn Thạc Sĩ

Hệ thống WDM về cơ bản chia làm hai loại: hệ thống đơn hướng và hệ thống song hướng. Hệ thống đơn hướng chỉ truyền theo một hướng trên sợi quang. Do vậy để truyền thông tin giữa hai điểm cần dùng hai sợi quang. Hệ thống song hướng truyền hai chiều trên cùng một sợi quang do đó chỉ cần một sợi quang để trao đổi thông tin giữa hai điểm. Cả hai hệ thống đều có những ưu nhược điểm riêng. Giả sử công nghệ hiện tại chỉ cho phép truyền n bước sóng trên một sợi quang. So sánh hai hệ thống ta thấy: Xét về dung lượng, hệ thống song hướng có khả năng truyền tải dung lượng lớn gấp đôi so với hệ thống đơn hướng, vì số sợi quang không cần dùng phải tăng gấp đôi; tuy nhiên chất lượng thường không tốt bằng đơn hướng. Khi có sự cố đứt sợi xảy ra, hệ thống sóng hướng không cần tới cơ chế chuyển mạch bảo vệ tự động APS vì cả hai đầu liên kết đều có khả năng nhận biết sự cố tức thì. Về mặt thiết kế mạng, hệ thống song hướng khó thiết kế hơn vì còn phải xét thêm các yếu tố như: vấn đề xuyên nhiễu do có nhiều bước sóng hơn trên một sợi quang, bảo đảm định tuyến và phân bố bước sóng sao cho 2 chiều trên sợi quang không dùng chung một bước sóng.

4.1. Cấu Trúc Điểm Điểm Trong Mạng Truyền Dẫn WDM

Cấu trúc điểm - điểm có thể thiết lập để kết nối hai điểm đầu cuối với nhau. Cấu trúc này có thể sử dụng cùng với các bộ xen rẽ quang OADM. Khi sử dụng OADM cho phép xen rẽ một phần lưu lượng tại một điểm bất kỳ trên tuyến. Cấu trúc này dùng để truyền tải với tốc độ cao từ 10 tới 40 Gbps. Trong các mạng MAN thường thì các bộ khuếch đại không cần thiết phải sử dụng. Cấu trúc điểm điểm chủ yếu dùng đối với các trạm phát và nhận ở khoảng cách xa cỡ vài trăm km, yêu cầu tốc độ truyền dẫn cao, tính nguyên vẹn tín hiệu và độ tin cậy cao, khả năng phục hồi đường truyền nhanh khi mạng gặp phải sự cố, và số lượng bộ khuếch đại sử dụng ở giữa hai đầu cuối thường nhỏ hơn 10.

4.2. Cấu Trúc Ring Trong Mạng Truyền Dẫn WDM NGN

Đây là cấu trúc phổ biến nhất trong các mạng sử dụng công nghệ SDH. Tốc độ bít cỡ khoảng từ 622Mbps đến 10Gbps. Hiện nay, cấu trúc ring đang được sử dụng với sự có mặt của các bộ OADM. Đây là một cấu trúc đơn giản, có thể cung cấp khả năng bảo vệ khi gặp sự cố một cách có hiệu quả khi sử dụng các kỹ thuật như trong các mạng SONET/SDH truyền thống. Chính vì lẽ đó cấu trúc ring rất thông dụng trong các mạng sử dụng công nghệ SDH/SONET. Có hai cấu trúc ring: ring WDM hai sợi và WDM 4 sợi.

4.3 Cấu Trúc Mạng Lưới Kết Nối Đa Dạng cho Mạng Quang

Mạng lưới là cấu trúc mạng quang trong tương lai. Khi kiến trúc mạng phát triển, cấu trúc điểm-điểm và ring vẫn tồn tại, nhưng cấu trúc mạng lưới có nhiều hiệu dụng lớn. Quá trình phát triển này được kích thích bởi sự phát triển và trở nên phổ biến của các thiết bị kết nối chéo quang, chuyển mạch quang. Từ điểm nhìn thiết kế, sự phát triển từ cấu trúc điểm-điểm tới mạng lưới là hết sức quan trọng.

V. Thiết Bị Trong Hệ Thống WDM Luận Văn Thạc Sĩ NGN

Một hệ thống WDM cũng giống như hệ thống TDM truyền thống bao gồm : các bộ phát quang, sợi quang được dùng làm môi trường truyền dẫn, các trạm lặp hoặc các bộ khuếch đại quang, bộ thu quang ngoài ra còn có các bộ ghép tách kênh quang. Tuy nhiên, khác với hệ thống TDM, hệ thống WDM cho phép ghép nhiều kênh tín hiệu trên cũng một sợi quang được đặt ở những bước sóng khác nhau.

5.1. Nguồn Phát Quang Cho Hệ Thống Truyền Dẫn WDM

Nguồn quang là thiết bị tích cực nằm ở phía đầu phát của hệ thống truyền dẫn quang. Nguồn phát có nhiệm vụ biến đổi tín hiệu điện thành tín hiệu quang, tín hiệu quang có thể được điều chế ngoài bằng một sóng ánh sáng liên tục hay sử dụng các thiết bị phát ra ánh sáng điều chế trực tiếp. Khi thiết kế hệ thống quang, nguồn phát quang phải đặc biệt được chú trọng. Các đặc tính của nó có tác động lớn đến hiệu quả cuối cùng của tuyến quang. Có hai loại thiết phát quang thường được sử dụng trong hệ thống truyền dẫn quang đó là điốt phát quang (LED) và điốt laser hay còn gọi là laser bán dẫn.

5.2. Thiết Bị Thu Quang Cho Mạng Truyền Tải Quang NGN

Tại phía đầu thu của hệ thống, chúng ta cần phải có thiết bị để chuyển đổi chùm sáng thu được thành tín hiệu điện. Các bộ thu quang cần phải thoả mãn một số yêu cầu khắt khe để đạt được hiệu quả làm việc mong muốn. Các yêu cầu đó là độ nhạy thu cao đối với dải rộng các bước sóng truyền dẫn, mức nhiễu thấp, giá thành đảm bảo, và có thời gian làm việc dài. Cũng như các hệ thống quang khác, hệ thống WDM sử dụng các bộ tách quang là PIN và APD.

5.3 Bộ Tách Ghép Kênh Quản Lý Bước Sóng Trong WDM

Lối ra của bộ phát laser là một luồng tín hiệu có bước sóng riêng rẽ. Các tín hiệu này sau đó được ghép kênh vào sợi quang. Thiết bị được sử dụng để thực hiện chức năng này là bộ ghép kênh MUX. Tại phía thu, mỗi tuyến sẽ sử dụng một thiết bị để tách tín hiệu chung từ đường truyền từ phía phát tới thành các kênh có bước sóng riêng lẻ, thiết bị này được gọi là bộ tách kênh DEMUX. Bộ tách kênh phải được đặt trước thiết bị tách quang bởi vì đây là thiết bị băng rộng không tách được kênh có bước sóng chọn lọc.

VI. Khuếch Đại Quang trong NGN Yếu Tố Quan Trọng của WDM

Trong các hệ thống truyền dẫn quang, việc sử dụng các bộ khuếch đại quang là hết sức quan trọng. Khi truyền dẫn trong môi trường sợi quang, ta gặp hiện tượng suy giảm công suất tín hiệu khi truyền dẫn và tán sắc của ánh sáng chính vì vậy mà tín hiệu không thể truyền dẫn với khoảng cách xa. Khuếch quang được sử dụng để tăng cường khoảng cách truyền dẫn đồng thời giảm thiểu hiện tượng tán sắc. Các bộ khuếch đại quang có thể khuếch đại tất cả các bước sóng cùng một lúc mà không cần phải thực hiện việc chuyển đổi quang - điện - quang. Bên cạnh việc sử dụng khuếch đại quang có các tuyến quang, ta có thể sử dụng khuếch đại sau khi tín hiệu đã được ghép kênh hay trước khi tín hiệu được phân kênh.

6.1 EDFA Bộ Khuếch Đại Quang Ưu Việt Cho NGN

Ngày nay, các bộ khuếch đại EDFA được sử dụng phổ biến trong các hệ thống WDM. Chính sự phát triển của EDFA khiến cho các hệ thống WDM trở nên khả dụng và được sử dụng rộng rãi, không những thế mà chúng còn tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của các phần tử cũng như kỹ thuật mạng. EDF (10-50m) Isolator Coupler Isolator Laser bơm H×nh 2. Cấu trúc của EDFA Hình 2.8 chỉ ra sơ đồ đơn giản của bộ khuếch đại EDFA.

6.2 Các Yêu Cầu Đối Với EDFA Trong Hệ Thống WDM

Đặc tính khuếch đại của EDFA: Độ khuếch đại phải bằng phẳng trong dải thông làm việc của WDM. Khi đó tất cả các bước sóng đều được khuếch đại đồng đều nhau.Dao động mức công suất chuyển tiếp: Trong hệ thống WDM khi tải thay đổi đột ngột sẽ dẫn tới sự thay đổi công suất. Các bộ khuếch đại thường làm việc ở chế độ bão hoà do đó chỉ có một phần năng lượng vừa đủ trong trạng thái Erbium mức trên đối với hoạt động ngắn. Khi dừng bơm một lượng công suất tín hiệu đầu vào nhỏ cũng làm mất tác dụng của hiện tượng nghịch chuyển (xẩy ra cỡ khoảng 100 µs) trong bộ khuếch đại.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Cùng với sử phát triển của xã hội, nhu cầu phát triển thông tin ngày càng đòi hỏi cấp bách trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nƣớc. Hiện tại và trong thời gian tới, nhu cầu phát triển các loại hình dịch vụ thoại, phi thoại, Internet và đặc biệt là các dịch vụ băng rộng,…ngày một ra tăng và không thể tách rời đối với đời sống xã hội. Để đáp ứng nhu cầu đó, mạng viễn thông đòi hỏi phải có cấu trúc hiện đại, linh hoạt và thoả mãn mọi nhu cầu về truyền tải lƣu lƣợng lớn và cung cấp nhiều loại hình dịch vụ. Mạng phải có tổ chức đơn giản nhƣng phải có độ an toàn mạng cao.

Trên thực tế, mạng viễn thông nói chung và mạng truyền dẫn nói riêng đã có một bƣớc tiến khá dài nhờ sự phát triển bùng nổ của các công nghệ mới và các nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Tuy nhiên, trong tƣơng lai mạng truyền dẫn không những chỉ thoả mãn cả về truyền tải lƣu lƣợng mà còn phải đáp ứng đƣợc nhiều yêu cầu mới nhƣ: cấu trúc mạng phải đơn giản, công nghệ tiên tiến, mạng phải đáp ứng thoả mãn mọi yêu cầu dịch vụ với độ thông suốt cao, an toàn lớn và đặc biệt là hết sức linh hoạt. Công nghệ mạng đã trải qua các giai đoạn chuyển đổi từ tƣơng tự sang số, từ phân cấp cận đồng bộ (PDH) sang phân cấp số đồng bộ (SDH) và gần đây là từ SDH sang WDM (ghép kênh theo bƣớc sóng). Mặc dù khả năng truyền tải lƣu lƣợng của mạng hiện tại đã tăng lên rất nhiều nhƣng nó vẫn chƣa thể thoả mãn hết nhu cầu của khách hàng.

Khi dung lƣợng tăng mạnh nhƣ sự gia tăng dung lƣợng Internet nhƣ hiện nay và trong thời gian tới thì cấu trúc mạng dựa trên việc truyền tải tín hiệu điện dần không đáp ứng đƣợc và p hải chuyển sang công nghệ truyền dẫn quang. Mạng truyền tải quang sử dụng công nghệ WDM có đầy đủ khả năng đáp ứng những yêu cầu đã nói ở trên. Việc áp dụng công nghệ này là một thực tế hiển nhiên trong sự phát triển của mạng truyền tải. Với sức mạng tiềm tàng về công nghệ thông tin quang, mạng truyền tải quang mới đƣợc coi nhƣ là một mạng truyền dẫn duy nhất hứa hẹn khả năng thoả mãn mọi yêu cầu khắt khe trong việc truyền tải và cung cấp dịch vụ viễn thông hiện nay và trong tƣơng lai.

Để thực hiện những điều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 đó, mạng truyền tải quang đƣợc phát triển để tập trung vào hƣớng để tạo ra một mạng truyền tải với năng lực cao phục vụ cho nhu cầu phát triển của mạng viễn thông khi nó chuyển sang mạng thế hệ sau (NGN). Tuy nhiên, để nghiên cứu cấu trúc và công nghệ mạng truyền tải này, có rất nhiều các khía cạnh cần đƣợc giải quyết nhằm ngày càng hoàn thiện các đặc tính nhƣ: công nghệ ghép bƣớc sóng quang, kỹ thuật truyền tải IP trên mỗi trƣờng quang, kỹ thuật bảo vệ luồng quang , phƣơng pháp thiết kế mạng truyền tải quang, các kỹ thuật định tuyến và gán bƣớc sóng quang,. Các kỹ thuật này cho phép xây dựng một mạng truyền tải thoả mãn các yêu cầu ở trên. Với ý nghĩa đó đề tài: “Nghiên cứu, xây dựng mạng truyền tải quang theo hƣớng phát triển mạng thế hệ sau (NGN) ” đƣợc trình bày trong luận văn là cần thiết.

Nội và kết quả thu đƣợc trong luận văn là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của tôi tại Trƣờng Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà nội với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé trong lĩnh vực rộng lớn về truyền tải quang. Với mục tiêu của đề tài, nội dung của luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng với bố cục nhƣ sau: Chƣơng 1: Giới thiệu tổng quan về mạng truyền tải và các phƣơng thức truyền tải theo hƣớng mạng thế hệ sau(NGN). Chƣơng 2: Trình bày về cấu trúc và công nghệ mạng WDM Chƣơng 3: Đƣa ra các phƣơng pháp dùng để thiết các tuyến thông tin quang, mạng truyền tải quang. Chƣơng 4: Những đề xuất xây dựng cấu trúc mạng truyền tải quang cho mạng viễn thông Việt Nam theo hƣớng NGN.

Áp dụng các phƣơng pháp thiết kế trong chƣơng 3 để tính toán tuyến truyền dẫn thông tin quang trong mạng truyền tải quang. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình thực hiện nhƣng nội dung của đề tài là vấn đề lớn trong mạng hiện tại, hơn nữa do thời gian không nhiều cũng nhƣ trình độ có hạn nên chắc chắn trong luận văn còn có nhiều chỗ thiếu sót. Rất mong nhận đƣợc sự góp ý của các Thầy Cô, các chuyên gia chuyên ngành và những nguời quan tâm để nội dung của luận văn đƣợc hoàn thiện hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MẠNG TRUYỀN TẢI VÀ PHƢƠNG THỨC TRUYỀN DẪN THEO HƢỚNG MẠNG THẾ HỆ SAU (NGN) Trong chƣơng này, chúng ta sẽ xem xét tổng quan về hệ thống truyền tải đƣợc sử dụng rộng rãi trong hệ thống viễn thông ngày nay và xu hƣớng phát triển tiến tới mạng thế hệ mới.

Các phần tử cơ bản của hệ thống , các khái niệm cơ bản, các công nghệ truyền tải và yêu cầu đối với các cấu trúc để đáp ứng đƣợc những yêu cầu chức năng đặt ra sẽ đƣợc mô tả và trình bày.1 TỔNG QUAN MẠNG TRUYỀN TẢI QUANG 1.1 Cấu trúc mạng truyền tải truyền thống Trong xây dựng và phát triển mạng viễn thông, các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng nhiều kỹ thuật mạng để tạo nên các hệ thống truyền tải quốc gia cũng nhƣ quốc tế. Để làm đƣợc điều đó, họ đã phải đối mặt với những khó khăn cũng nhƣ thách thức trong việc tìm ra các giải pháp tối ƣu đáp ứng cho các dịch vụ mà mình cung cấp. Mỗi công nghệ mạng đƣợc nhà cung cấp đƣa ra sẽ tồn tại trong nhiều mạng và cần phải có thời gian để xem xét tính hiệu quả có nó. DÞch vô sè liÖu/ IP Internet ATM TÝch hîp ®a dÞch vô Cung cÊp c¬ chÕ ADM SONET/SDH ADM hîp kªnh cè ®Þnh vµ b¶o vÖ m¹ng WDM Optical/WDM WDM Cho phÐp dung l-îng truyÒn dÉn lín H×nh 1.

CÊu tróc ®a líp cña m¹ng truyÒn t¶i TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Các cấu trúc mạng truyền thống đƣợc xây dựng trên cấu trúc đa lớp. Các lớp này đƣợc thể ở hình 1. Trong đó, lớp truyền tải quang đƣợc sử dụng làm môi trƣờng truyền dẫn với những lợi điểm về băng thông mà hiện tại chƣa có môi trƣờng truyền dẫn nào có thể so sánh với nó đƣợc. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại, ở lớp truyền dẫn quang này vẫn chƣa có các hệ thống định tuyến thông minh.

Để phân phối băng thông hữu hiệu, lớp SDH/SONET đƣợc sử dụng ở rất nhiều các mạng truyền thống với khả năng sử dụng băng thông hợp lý và một cơ chế bảo vệ thông minh. Ở trên lớp này, lớp ATM đƣợc sử dụng nhƣ là một tuỳ chọn, nó cung cấp cơ chế hợp kênh thống kê cũng với khả năng tích hợp nhiều loại hình dịch vụ tại cùng một thời điểm. ATM đƣợc sử dụng cũng làm tăng cƣờng sự phối hợp cũng nhƣ tính khả dụng của các lớp dƣới nó (lớp SDH/SONET, lớp quang). Hơn thế, ATM định nghĩa một cơ chế định tuyến với mục đích tối ƣu hoá lƣu lƣợng đƣợc phân phối qua mạng bằng cách đƣa ra các dịch vụ với chất lƣợng dịch vụ QoS khác nhau.[8] Nếu các nhà cung cấp dịch vụ không sử dụng các dịch vụ dựa trên nền IP thì cấu trúc mạng sẽ còn lại gồm 3 lớp sẽ tỏ ra hữu hiệu hơn.

Do các ứng dụng dựa trên nền IP sẽ làm tăng các dịch vụ IP trên mạng, một số cơ chế tích hợp IP với cấu trúc hệ thống đã đƣợc đƣa ra trong đó MPLS tỏ ra là một cấu trúc có tính hiệu quả cao.[19] Cấu trúc mạng dựa trên các lớp đƣợc phát triển và thay đổi khi các nhà cung cấp dịch vụ thay đổi các công nghệ mạng. Để hiểu đƣợc toàn bộ sự thay đổi trong cấu trúc mạng hiện tại thì chúng ta cần hiểu một cách chi tiết về chức năng và các đặc tính của các lớp trên. Vấn đề này sẽ đƣợc trình bày ngay tiếp sau đây.2 Lớp truyền dẫn quang Sợi quang đƣợc sử dụng làm môi trƣờng truyền tải có khả năng truyền dung lƣợng rất lớn. Nó rất phù hợp cho việc truyền dẫn trên các mạng đƣờng dài.

Với các kỹ thuật phát triển hiện tại (đối với nguồn laser và sợi quang), thì tín hiệu sẽ phải khôi phục lại trong khoảng cách từ 40 đến 80 km. Tốc độ bít điển hình có thể đạt đƣợc khi sử dụng các kỹ thuật điều chế tiên tiến cỡ khoảng 40G bps tƣơng ứng với một bƣớc sóng. Nếu sử dụng đồng thời nhiều bƣớc sóng trên một sợi quang nhƣ ở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 kỹ thuật ghép bƣớc sóng WDM thì dung lƣợng truyền dẫn có thể lên tới nhiều Tb.[14] Bằng cách sử dụng các kỹ thuật trên, các nhà cung cấp dịch vụ có thể xây dựng mạng quang với dung lƣợng truyền dẫn lớn từ hàng Gbps đến vài Tbps. Khi đó dung lƣợng truyền tải không còn là lợi thế của các nhà cung cấp dịch vụ nữa mà công nghệ sử dụng , khả năng tích hợp các dịch vụ sẽ là vấn đề quan trọng đối với họ.

Chính điều này đã làm nền tảng cho sự phát triển của các mạng truyền tải hiện tại cũng nhƣ mạng truyền tải thế hệ mới.3 Kỹ thuật ghép kênh SDH/SONET Trƣớc đây, dịch vụ chủ yếu mà các nhà cung cấp dịch vụ đƣa tới khách hàng là dịch vụ thoại truyền thống. Để làm điều này, họ sử dụng cơ cấu truyền dẫn phân cấp không đồng bộ PDH để mang tín hiệu tốc độ thấp để biểu thị cho kết nối thoại hay dữ liệu tốc độ thấp của khách hàng. Mạng PDH tồn tại một số hạn chế nhƣ là tốc độ ghép kênh tối đa chỉ có thể đạt đƣợc là 139,246 Mbps hay tính hiệu quả của việc truyền dẫn thấp bởi vì một số lƣợng lớn các dữ liệu thừa cần phải chèn vào luồng để biểu diễn cho độ trễ giữa các tín hiệu không đồng bộ của các thiết bị trong mạng. Thêm vào đó nữa là sự không tƣơng thích giữa các nhà sản xuất chỉ bởi ở cơ chế ghép kênh chứ không phải trên phƣơng diện truyền dẫn.

Để khắc phục vấn đề này, kỹ thuật truyền dẫn đồng bộ SDH/SONET đã ra đời; ta xẽ xem xét kỹ thuật này nhƣ sau.1 Chuẩn truyền dẫn đồng bộ SDH và SONET đã khắc phục đƣợc những hạn chế của PDH và cho phép kết nối với tốc độ bit cao trên 155Mbps.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ