Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm nông thôn Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn [9]. Còn theo một số tác giả: Nông thôn là một phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp quản lý hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Hộ nông dân Là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp.
Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ. Theo Ellis: “Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu là lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao”. Lao động và lao động nông thôn 1. Khái niệm lao động “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người” [5].
Theo triết học, lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Lao động là hoạt động đặc trưng nhất, là hoạt động sáng tạo của con người. Tính hai mặt của n 5 lao động sản xuất hàng hoá và mâu thuẫn giữa chúng.
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị là do lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt. Chính tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết định tính hai mặt của bản thân hàng hoá. Chính Các Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá, đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao động, trong kinh tế học, được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa.
Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất. Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động.
Mức tiền công chính là mức giá của lao động. Lao động là một yếu tố sản xuất. Người sản xuất là người có nhu cầu về lao động và mang mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sẽ tuyển nhiều lao động hơn nếu mức tiền công thực tế giảm (giả định là quá trình sản xuất cần hai yếu tố là tư bản và lao động đồng thời hai yếu tố này có thể thay thế cho nhau). Nói cách khác, lượng cầu về lao động sẽ giảm nếu mức giá lao động tăng.
Vì thế đường cầu về lao động là một đường dốc xuống. Trong bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội” Theo khái niệm của Liên hợp quốc thì: “Lao động là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người vào cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội”. Hay theo tổ chức Lao động thế giới (ILO) thì: “Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm”. n 6 Thực tế trong từng thời kỳ, và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao động khác nhau.
Ở nước ta, theo bộ Luật lao động, độ tuổi lao động được quy định đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Xét về khía cạnh việc làm, lực lượng lao động gồm hai bộ phận là có việc làm và thất nghiệp [10]. Lao động gia đình của nông hộ Lao động của gia đình là nguồn lực cơ sở của các hộ gia đình và nông trại, là yếu tố cơ bản nhằm phân biệt kinh tế hộ gia đình với các doanh nghiệp, công ty. Lao động gia đình của nông hộ được xác định là tất cả những người trong gia đình có khả năng lao động và sẵn sàng tham gia lao động sản xuất sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ để cung cấp cho gia đình và xã hội.
Lao động gia đình của nông hộ gồm những người trong độ tuổi lao động và cả những người ngoài độ tuổi lao động có thể tham gia lao động khi cần thiết. Lao động của gia đình không loại trừ lao động đổi công, lao động thuê mướn hoặc đi làm thuê vào thời vụ lao động như thời điểm làm đất, thu hoạch. Xác định lao động gia đình của hộ nông dân cần chú ý đến trình độ lao động, tay nghề lao động, đặc biệt là lao động tiềm năng, tức những người đang học nghề, hoặc chưa đến tuổi lao động còn đi học. Nguồn lao động Nguồn lao động là khái niệm có ý nghĩa quan trọng cho việc tính toán cân đối lao động, việc làm trong xã hội.
Nguồn lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật và có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân [3]. Nguồn lao động là lực lượng về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh biểu hiện đó là số lượng và chất lượng. n 7 Số lượng lao động là toàn bộ số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động gồm dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định) [3]. Chất lượng lao động cơ bản đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề và sức khỏe của người lao động.
Phân loại nguồn lao động Trong nghiên cứu nguồn lao động các thuật ngữ sau đây được sử dụng theo nghĩa tương tự: lực lượng lao động, dân số làm việc và “dân số hoạt động kinh tế”. Nguồn lao động bao gồm: - Những người đang có việc làm: là những người làm việc trong khoảng thời gian xác định trong cuộc điều tra, kể cả làm việc cho gia đình được trả công hoặc nghỉ tạm thời do ốm đau, tai nạn, tranh chấp lao động hoặc nghỉ lễ hoặc ngừng tạm thời do thời tiết xấu, trục trặc dây truyền sản xuất,… - Không có việc làm, thất nghiệp: gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra không có việc làm. Nó cũng bao gồm cả những người trước đó không tìm được việc làm vì lý do ốm đau, tai nạn tạm thời mà họ không có thỏa thuận sẽ bắt đầu công việc mới ngay sau khoảng thời gian xác định ở trên hoặc họ tạm thời nghỉ hoặc nghỉ không có thời hạn mà không được trả công ở những nơi tìm kiếm việc làm rất hạn hẹp. Khối thất nghiệp cũng bao gồm những người không có việc làm, có khả năng lao động mặc dù họ không tích cực tìm kiếm việc làm vì họ tin rằng không có cơ hội làm việc nào mở ra đối với họ [9].
Khái niệm về lao động nông thôn Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. n 8 Lao động nông thôn là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn. Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất [16]. Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình. Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn. Những đặc điểm cơ bản của lao động nông thôn Nguồn lao động trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng của người lao động. Về số lượng bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi và những người trên và dưới độ tuổi nói trên tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp) [5].
Như vậy, về số lượng nguồn lao động trong nông nghiệp khác ở chỗ nó không không chỉ gồm những người trong độ tuổi lao động mà còn bao gồm những người trên và cả dưới tuổi quy định có khả năng và thực tế tham gia lao động. Về chất lượng gồm cả thể lực và trí lực của người lao động, cụ thể là trình độ sức khỏe trình độ nhận thức, trình độ chính trị, trình độ văn hoá, nghiệp vụ và tay nghề lao động. n 9 Nguồn lao động ở nông thôn có những đặc điểm riêng so với các ngành sản xuất vật chất khác. Trước hết là lao động nông thôn mang tính thời vụ cao.
Đây là nét điển hình của lao động nông thôn.