LỜI MỞ ĐẦU Thế kỷ 21, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin nói chung và kỹ thuật viễn thông nói riêng. Truyền thông đa phƣơng tiện, nhu cầu dịch vụ viễn thông phát triển rất nhanh dẫn đến yêu cầu ngày một cao đối với việc tăng dung lƣợng truyền dẫn. Cùng với sự phát triển của công nghệ chuyển mạch, công nghệ truyền dẫn cũng đạt đƣợc những thành tựu to lớn, đặc biệt là công nghệ truyền dẫn bằng cáp sợi quang. Cáp sợi quang đƣợc sử dụng rộng rãi trong mạng viễn thông và đƣợc coi là một môi trƣờng truyền dẫn lý tƣởng mà không một môi trƣờng truyền dẫn nào có thể thay thế.
Với ƣu điểm băng thông rộng, cự li truyền dẫn xa, không bị ảnh hƣởng của nhiễu và khả năng bảo mật cao, hệ thống thông tin quang phù hợp với các tuyến thông tin xuyên lục địa, các tuyến đƣờng trục, trung kế với các cấu trúc linh hoạt, đáp ứng các nhu cầu dịch vụ hiện tại và tƣơng lai. Với sự tiến bộ vƣợt bậc của khoa học kỹ thuật, gần đây đã thực hiện thành công việc khuếch đại trực tiếp tín hiệu quang mà không cần phải thông qua bất kỳ một quá trình biến đổi về điện nào. Kỹ thuật này cho phép khắc phục đƣợc nhiều hạn chế của trạm lặp nhƣ: hạn chế về băng tần truyền dẫn, cấu trúc phức tạp, chi phí lớn… đã làm cho kỹ thuật truyền dẫn trên cáp sợi quang càng tỏ rõ tính ƣu việt. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng cũng nhƣ ý nghĩa to lớn của khuếch đại quang sợi, dƣới sự hƣớng dẫn của PGS.
Nguyễn Quốc Trung, em đã tập trung nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng khuếch đại quang sợi trong truyền dẫn quang WDM”. Những kết quả đạt đƣợc trong đề tài là tiền đề để tiếp tục những nghiên cứu sâu, rộng hơn nhằm đƣa đến những ứng dụng trong thực tế. Nội dung luận văn tốt nghiệp gồm các chƣơng sau Chƣơng I: Tổng quan hệ thống thông tin quang. Chƣơng II: Các công nghệ khuếch đại quang sợi.
Chƣơng III: Phân tích các đặc tính, tham số kỹ thuật và ứng dụng của bộ khuếch đại quang sợi EDFA. Chƣơng IV: Kết luận. 10 CHƢƠNG I TỔNG QUAN HỆ THỐNG THÔNG TIN QUANG 1. Quá trình phát triển của hệ thống thông tin quang.
Hệ thống thông tin quang cũng nhƣ các hệ thống thông tin khác, thành phần cơ bản của hệ thống đều tuân thủ theo một hệ thống thông tin chung. Tín hiệu truyền đƣợc phát vào môi trƣờng truyền dẫn và đầu thu sẽ thu lại tín hiệu cần truyền. Môi trƣờng truyền dẫn của hệ thống thông tin quang ở đây chính là sợi quang, sợi quang thực hiện truyền ánh sáng mang tín hiệu thông tin từ phía phát tới phía nhận. Năm 1960, laser đƣợc sử dụng làm nguồn phát quang đã mở ra một thời kỳ mới có ý nghĩa to lớn trong lịch sử kỹ thuật thông tin sử dụng ánh sáng để truyền thông tin.
Thông tin bằng tia laser truyền qua không gian nhƣng bị ảnh hƣởng của thời tiết, máy phát và phải nhìn thấy nhau…nên việc sử dụng bị hạn chế. Năm 1962 xuất hiện laser bán dẫn và cùng với nó, sợi quang đƣợc chế tạo đầu tiên vào năm 1970 làm cho thông tin quang trở thành hiện thực. Ánh sáng từ laser bán dẫn đƣợc ghép vào sợi quang và truyền trong sợi quang theo nguyên lý phản xạ toàn phần nên đã khắc phục đƣợc các nhƣợc điểm của thông tin bằng tia laser. Laser bán dẫn GaAs/GaAlAs phát ở vùng hồng ngoại gần 0.8μm đã đƣợc chế tạo và sử dụng cho thông tin quang sợi trong nhƣng năm 1970.
Thập kỷ 80 của thế kỷ trƣớc các hệ thống thông tin quang thế hệ đầu tiên (tốc độ 45 Mbps, khoảng cách lặp 10 km) và hệ thống thông tin quang thế hệ thứ hai sử dụng laser 1310 nm đƣợc đƣa vào hoạt động. Thời gian đầu, tốc độ chỉ đạt 100Mb/s do tán sắc sợi đa mode, khi sợi đơn mode đƣợc đƣa vào sử dụng, tốc độ đƣợc tăng lên rất cao. Năm 1987, hệ thống thông tin quang 1310 nm có tốc độ 1.7 Gbps với khoảng cách lặp 50 km đã có mặt trên thị trƣờng. 11 Thế hệ thứ ba của các hệ thống thông tin quang hoạt động ở vùng bƣớc sóng 1.5 Gbps, khoảng cách lặp 60 ÷ 70 km.
Khi sử dụng các loại sợi quang bù tán sắc và làm phẳng tán sắc, khoảng cách lặp sẽ đƣợc tăng cao. Thế hệ thứ tƣ của hệ thống thông tin quang là sử dụng khuếch đại quang sợi để kéo dài khoảng cách lặp đồng thời ghép nhiều bƣớc sóng trong một sợi quang để tăng tốc độ truyền dẫn trong sợi quang. Khuếch đại quang sợi pha tạp chất Erbium (EDFA) có khả năng bù công suất cho suy hao quang trong khoảng cách lớn hơn 100km. Hệ thống thông tin quang có EDFA đƣợc thử nghiệm truyền tín hiệu số tốc độ 2.5 Gbps ở khoảng cách 21.000 km và 5 Gbps ở khoảng cách 14.300 km đầu tiên vào năm 1991.
Năm 1996 hệ thống thông tin quang quốc tế dƣới biển đã đƣợc lặp đặt, năm 1997 đƣờng cáp quang vòng quanh thế giới dƣới biển dài 27.300 km đƣợc đƣa vào hoạt động kết nối nhiều nƣớc ở châu Âu, châu Á với tốc độ 5 10 Gbps. Công nghệ ghép nhiều bƣớc sóng trên một sợi quang (WDM) làm tăng dung lƣợng truyền dẫn một cách đáng kể. Năm 1996 đã thử nghiệm tuyến truyền dẫn 20 bƣớc sóng quang với tốc độ của từng bƣớc sóng là 5 Gbps qua khoảng cách 9.100 km, tốc độ của tuyến đã đạt 100 Gbps. Hai hệ thống truyền dẫn tốc độ cao.
12 Thế hệ thứ năm của hệ thống thông tin quang dựa trên cơ sở giải quyết vấn đề tán sắc trong sợi quang. Suy hao trong sợi quang đã đƣợc khuếch đại quang giải quyết rất hoàn hảo nhƣng vấn đề tán sắc vẫn chƣa đƣợc giải quyết. Giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề tán sắc là sử dụng hiệu ứng Soliton quang, hiệu ứng Soliton quang là hiệu ứng phi tuyến trong sợi quang, dựa trên cơ sở tƣơng tác bù trừ tán sắc của các thành phần quang trong một xung quang cực ngắn đƣợc truyền trong sợi quang không có suy hao. Năm 1994 hệ Soliton thử nghiệm truyền tín hiệu 10 Gbps qua khoảng cách 35.000 km và 15 Gbps qua khoảng cách 24.
Năm 1996 hệ thống WDM có 7 bƣớc sóng truyền Soliton trên khoảng cách 9.400km với tốc độ 70 Gbps. Hiện nay, mạng thông tin toàn quang đang đƣợc nghiên cứu mạnh mẽ nhằm tăng hơn nữa tốc độ thông tin. Các hệ thống thông tin quang đã đƣợc ứng dụng rộng rãi trên thế giới. Chúng đáp ứng đƣợc cả tín hiệu tƣơng tự và số và cho phép truyền dẫn tất cả các tín hiệu dịch vụ băng hẹp, băng rộng, đáp ứng mọi nhu cầu của mạng tích hợp dịch vụ số (ISDN).
Các tuyến cáp quang đã đƣợc lắp đặt trên thế giới với số lƣợng lớn, đủ mọi tốc độ truyền dẫn với các cự ly khác nhau và cấu trúc mạng đa dạng. Nhiều quốc gia lấy cáp quang làm môi trƣờng truyền dẫn chính cho mạng viễn thông, các hệ thống thông tin quang sẽ là mũi đột phá về tốc độ, cự ly truyền dẫn và cấu trúc linh hoạt cho dịch vụ viễn thông cấp cao.2 Tổng quan về công nghệ WDM. Giới thiệu Với việc các dịch vụ thông tin tăng trƣởng ngày càng nhanh, yêu cầu về tốc độ truyền dẫn ngày càng lớn, và chất lƣợng truyền dẫn yêu cầu ngày càng khắt khe hơn. Để thích ứng và thoả mãn các yêu cầu trên, các công nghệ truyền dẫn khác nhau đã đƣợc nghiên cứu, triển khai thử nghiệm và đƣa vào ứng dụng, trong số đó phải kể đến công nghệ TDM, WDM, OTDM, Soliton.
Công nghệ TDM, dung lƣợng hệ thống có thể đạt tới 5 Gbps, tuy nhiên đây cũng là giới hạn dung lƣợng của công nghệ này. Với những gì không đạt đƣợc của 13 hệ thống TDM về mặt dung lƣợng thì hệ thống thông tin quang dựa trên công nghệ WDM lại đáp ứng đƣợc. Hệ thống (mạng) WDM. Công nghệ ghép kênh theo bƣớc sóng quang (WDM - Wavelength Division Multiplexing) là công nghệ truyền đồng thời nhiều bƣớc sóng khác nhau trên một sợi quang, với dung lƣợng trên mỗi bƣớc sóng quang điển hình là 2,5 Gbps.
Số lƣợng ghép thƣờng là 2 16 bƣớc sóng và còn nhiều hơn nữa. Ở phía phát, các bƣớc sóng quang mang thông tin đƣợc ghép trên cùng một sợi quang và đƣợc truyền dẫn tới phía thu. Tại phía thu, các bƣớc sóng ghép đó đƣợc tách ra bằng các bộ tách kênh quang. Trên tuyến truyền dẫn có thể có các bộ khuếch đại quang để bù lại suy hao truyền dẫn, công nghệ này thực sự cho hiệu quả truyền dẫn rất cao mà không quá phức tạp.
Minh họa cho thấy sự hấp dẫn của công nghệ WDM: Băng tần truyền dẫn của sợi quang là rất lớn, chỉ với riêng cửa sổ quang 1550 nm thì dải bƣớc sóng có thể sử dụng là 1500 nm - 1600 nm, tƣơng ứng với dải tần rộng cỡ 15 THz. Sự suy giảm của ánh sáng trong sợi Silic (thạch anh). Sử dụng cho tốc độ truyền dẫn cỡ 10 Gbps thì chỉ cần sử dụng một phần rất nhỏ trong băng tần truyền dẫn này. Có thể thấy dung lƣợng yêu cầu cỡ hàng trăm Gbps là khả thi với hệ thống WDM.
Mặt khác, hệ thống còn rất mềm dẻo khi có các phần tử nhƣ bộ tách ghép quang, bộ nối chéo quang, chuyển mạch quang, các bộ lọc quang thực hiện lựa chọn kênh động hoặc tĩnh… Công nghệ OTDM, truyền dẫn Soliton thì dung lƣợng đƣợc đáp ứng rất tốt nhƣng lại quá phức tạp, do đó giá thành hệ thống lại là vấn đề đáng quan tâm. Vì vậy, truyền dẫn WDM với sự nâng cấp mở rộng dung lƣợng phát triển dịch vụ băng rộng, khai thác triệt để tài nguyên băng thông của sợi quang và thực hiện truyền dẫn thông tin siêu tốc, có ý nghĩa rất quan trọng trong truyền dẫn cáp sợi quang cũng nhƣ trong công nghiệp viễn thông. Thực sự, WDM là một công nghệ đáng đƣợc quan tâm, nghiên cứu và triển khai ứng dụng rộng rãi. Quá trình phát triển mạng truyền dẫn.
Công nghệ mạng truyền dẫn đã chuyển đổi qua các giai đoạn từ tƣơng tự sang số, từ phân cấp số cận đồng bộ (PDH) sang phân cáp số đồng bộ (SDH) và gần đây là từ SDH sang WDM (ghép kênh phân chia theo bƣớc sóng). Để kế thừa và tƣơng thích hoàn toàn với công nghệ trƣớc (cũ) thì công nghệ chuyển mạch sau (mới) phải thích hợp với công nghệ truyền dẫn trƣớc.