Chương 1 – Tổng quan : Giới thiệu chung về luận văn, tính cấp thiết, phạm vi, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý luận : Giới thiệu về hệ thống dữ liệu địa lý (các thành phần, đặc điểm, biểu diễn), tóm tắt và giới thiệu về ảnh địa lý thực tế (ảnh vệ tinh viễn thám). Bên cạnh đó giới thiệu hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL và PostGIS dùng để lưu trữ và xử lý hệ thống ảnh vệ tinh viễn thám Chương 3 – Bài toán về thu thập lữu trữ và xử lý ảnh vệ tinh. Từ ảnh vệ tinh chụp được từ một khu vực nhất định, lưu trữ, truy vấn và xử lý cơ sở dữ liệu để từ đó xây dựng bức tranh tổng quát về bản đồ dữ liệu ảnh vùng miền Kết luận : Kết quả đạt được và hướng phát triển tiếp theo.
z 13 CHƢƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Lý thuyết về GIS 2.1 Khái niệm, đặc tính Khái niệm GIS Geographic Information Systems (GIS) là viết tắt của hệ thống thông tin địa lý. GIS được thiết kế để ghi lại, lưu trữ, xử lý phân tích và quản lý các dữ liệu về không gian hay các thông tin địa lý[8]. Dữ liệu về địa lý phức tạp hơn dữ liệu về hình ảnh đơn thuần rất nhiều, nó không chỉ miêu tả dữ liệu về các đối tượng trong không gian mà có các thông tin tham chiếu đi cùng như nhiệt độ, độ ẩm, độ cao của các đối tượng cần quan sát. Mục đích của hệ thống thông tin địa lý là hệ thống được thiết kế để tích hợp, lưu trữ, chỉnh sửa, phân tích hay chia sẻ các thông tin liên quan đến khu vực địa lý cùng các thông tin xung quanh Hình 2.1 – Hình ảnh mang thông tin địa lý Hệ thống GIS đầu tiên được xây dựng và triển khai vào năm 1964 với tên gọi là CGIS (Canadian Geographic Information Systems)[14] với mục đích phục vụ chủ yếu cho công việc điều tra, quản lý tài nguyên thiên nhiên và sau này là công tác triển khai và quản lý hạ tầng đô thị.
Sau này, hệ thống thông tin địa lý còn được sử dụng trong các lĩnh vực quan trọng khác như hệ thông quản lý tài đất đai và tài nguyên đất (LIS&LRIS), hệ thống thông tin quản lý đê cảng (PMIS), hệ thống thông tin tích hợp tài nguyên (ILWIS)[6]. Những năm về sau, các hệ thống ứng dụng GIS gia tăng phát triển một cách mạnh mẽ trong các lĩnh vực như theo dõi, sử dụng tối ưu hóa các tài nguyên, đánh giá các dự án quy hoạch đô thị hoặc các bài toán liên quan đến giao thông đô thị. Việc nghiên cứu các hệ thống GIS được nâng lên một bước tiến mới khi kết hợp các hệ thống GIS với ảnh viễn thám chụp vệ tinh. Đây cũng là một bước đột phá trong việc số hóa và nghiên cứu các hệ thống GIS trong lĩnh vực quan sát, quản lý, xử lý và phân tích dữ liệu Có thể thấy, GIS đã trở thành yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý các hệ thống thông tin địa lý.
Các hệ cơ sở dữ liệu GIS có thể phân tích các đối tượng, tổng hợp các dữ liệu không gian và phi không gian được số hóa về các đối tượng bản đồ, mỗi liên hệ giữa các đối tượng và tính chất của vùng đối tượng. Các chức năng của hệ thống GIS có thể kể đến như truy vấn (query), phân tích thống kê (statistical analysis), thể hiện trực quan (visialization), phân tích đối tượng trong không gian (geographic analysis) trên bản đồ[14]. Với các đặc điểm và tính năng z 14 vượt trội của mình, GIS đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích các hiện tượng thiên nhiên, dự báo hay quy hoạch chiến lược. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và ứng dụng sử dụng hệ thống thông tin địa lý đang ở trong giai đoạn phát triển và đang có được các kết quả đang ghi nhận.
Các nghiên cứu hiện tại đang tập trung đến công tác quản lý và giải đoán bản đồ như: quản lý đô thị, quản lý hạ tầng, quản lý hệ thống tài nguyên rừng, xói mòn đất, giải đoán phòng chống lũ lụt lũ quét, xác định mức độ ngập lụt, xử lý ảnh vệ tinh giám sát hiện trường… Các đặc tính của hệ thống GIS GIS được dùng để giải quyết các bài toán dựa trên dữ liệu không gian, cụ thể bao gồm các bài toán: - Tổ chức dữ liệu Mô hình dữ liệu GIS được tổ chức dựa trên thuộc tính không gian và phi không gian. Dữ liệu sẽ được sắp xếp theo nhiều cách khách nhau để phù hợp với mục đích sử dụng của công việc tiếp theo. - Hiển thị dữ liệu Dữ liệu GIS được hiển thị dưới dạng bản đồ dựa trên công cụ đồ họa máy tính bao gồm các đặc điểm như màu sắc, ký hiệu, hiệu ứng thu/phóng, thay đổi cách thức hiển thị,… giúp cho người dùng có thể nghiên cứu và giải quyết vấn đề một cách trực quan, dễ dàng và hiệu quả. - Truy vấn dữ liệu Thông tin GIS có thể kết hợp cùng với các ngôn ngữ truy vấn dữ liệu truyền thống như SQL và đầy đủ các chức năng của SQL để truy vấn dữ liệu.
Các dữ liệu được truy vấn sẽ được hiển thị dưới dạng hình họa hoặc đưới dạng bảng biểu. - Tích hợp GIS bao gồm các lớp hay mô hình bản đồ khác nhau với phương thức hiện thị khác nhau. Các mô hình bản đồ này có thể kết hợp với nhau dựa trên các phép toán hoặc logic, tạo ra một bản đồ tổng quát gồm tất cả các đặc điểm của các bản đồ riêng lẻ cộng lại. - Phân tích và dự đoán Phân tích là quá trình xử lý các truy vấn dữ liệu, đưa ra các thông số/hình ảnh của đối tượng cần nghiên cứu.
Bên cạnh đó, có thể kết hợp với các truy vấn để đưa ra số lượng, tính toán thống kê, mô hình điều chỉnh hay các phép toán khác. Nghiên cứu GIS với mục đích đưa ra các dự đoán, đòi hỏi tính chính xác liên quan đến đối tượng dữ liệu không gian và phi không gian như dự báo thời tiết, thiên tai, cảnh báo các thay đổi địa chất… Hệ thống GIS dùng để miêu tả, diễn tả các đối tượng, thực thể trong mô hình không gian-thời gian từ những đối tượng đơn giản như sông hồ, đất, các địa điểm cho đến các đối tượng phức tạp như quốc gia, địa giới hành chính địa phương, các công trình (đường ray, đường ống nước, các tòa nhà). Các thực thể đối tượng này được biểu diễn bởi tập hợp của các điểm (point), các đường nét (line) hoặc là các đa giác (polygon) z 15 Hình 2.2 – Các hình thức biểu diễn thông tin GIS Điểm (point) Các điểm hay các chấm của dữ liệu GIS được dùng để biểu diễn những đối tượng tách rời mà kích thước quá nhỏ với việc miêu tả bằng đường nét hay miêu tả bằng các đa giác. Thông thường đó có thể là một địa chỉ, một đỉnh núi, một ngôi nhà… Đƣờng nét (line) Đường nét hay đường gấp khúc hoặc các đoạn cong dùng để diễn tả các đối tượng địa lý mà chúng quá hẹp so với các khu vực khác.
Đây là tập hợp của một dãy các điểm, mô tả đối tượng địa lý dạng tuyến tính như đường phố, sông suối hay hệ thống ống nước. Bên cạnh đó, các đường nét cũng có thể dùng để diễn tả địa giới hành chính của các tỉnh/thành phố hay biên giới giữa hai đất nước. Vùng đa giác (polygon) Các đa giác là các đường nét khép kín, dùng để miêu tả hình dạng của các đối tượng lớn được thể hiện trên hệ thống như là một thành phố, quốc gia, các vùng đất hoặc vùng khí hậu. GIS biểu diễn dữ liệu thông qua dữ liệu không gian và phi không gian - Dữ liệu không gian là dữ liệu thể hiện chính xác vị trí trong không gian thực của đối tượng và quan hệ giữa đối tượng qua mô tả hình học và mô tả không gian.
Các dữ liệu không gian thể hiện các đối tượng bản đồ qua các đặc tả về điểm, đường, vùng. Các đối tượng không gian cần được ghi nhận vị trí trong không gian bản đồ, mối quan hệ của nó với các đối tượng xung quanh và một số thuộc tính có liên quan đến mô tả đối tượng. Thông tin vị trí các đối tượng bản đồ luôn đi kèm theo các thông tin về quan hệ không gian, nó được thể hiện bằng việc các đối tượng nói liên thông nhau, kề nhau hoặc bao lấy nhau. - Dữ liệu phi không gian thể hiện các thông tin về đặc điểm của các yếu tố bản đồ, bao gồm thông tin định lượng (kích thước, diện tích, độ nghiêng), định tính (phân lớp, kiểu, màu sắc, tên gọi).
Thông thường dữ liệu phi không gian được thể hiện bằng mã và được lưu trữ trong bảng. Dữ liệu địa lý diễn tả thông tin về các đối tượng thông qua các ký hiệu, màu sắc, các đặc điểm (ví dụ: đường phố được miêu tả dưới dạng đường nét và được gán tên của nó đi cùng với một số địa chỉ xác định trên đường, màu xanh dùng để miêu tả z 16 cho sông suối). Một vài địa điểm đặc biệt như trường học, bệnh viện, sân bay,… sẽ có các ký hiệu đặc biệt trên địa điểm để tiện cho việc nhận biết. Các chức năng của hệ thống GIS - Thu thập dữ liêu: GIS sử dụng dữ liệu từ nhiều nguồn tài nguyên khác nhau, đồng thời cung cấp công cụ để tích hợp những khả năng trong việc thu thập và tích hợp dữ liệu, quy về một quy chuẩn đồng nhất được dùng để so sánh, phân tích, xử lý thông tin trong dữ liệu.
- Quản lý dữ liệu: Dữ liệu sau khi được thu thập từ các nguồn và được tích hợp, GIS sẽ có những cơ chế để lưu trữ cũng như duy trì dữ liệu đã được lưu trữ - Phân tích không gian: Đây là chức năng quan trọng đối với một hệ thống GIS. Bằng các lệnh hay các hàm có sẵn, hệ thống GIS sẽ xử lý thông tin đã được lưu trữ từ trước, thao tác và tính toán để phù hợp với nội dung mà bài toán đặt ra. - Hiển thị kết quả: GIS được cung cấp nhiều cách hiển thị kết quả và thông tin đã được tính toán. Các phương pháp hay thực hiện là: đồ thị, bảng biểu, bản đồ hay hiện thị qua các hình ảnh trực quan.