Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng của khoảng 3 tỷ người trên thế giới. Trong khi dân số thế giới tiếp tục tăng thì diện tích đất dùng cho trồng lúa không những không tăng mà còn đang bị suy giảm.
Do đó, vấn đề lương thực được đặt ra như mối đe dọa đến an ninh và ổn định của Thế giới trong tương lai. Theo dự đoán của các chuyên gia dân số học, nếu dân số thế giới tiếp tục tăng trong vòng 20 năm tới thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng đủ nhu cầu sống còn của số dân mới. Thực tế trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn trong việc nâng cao sản lượng lương thực để vừa cung cấp đủ lương thực cho nhân dân trong nước, vừa góp phần cùng với cộng đồng quốc tế đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu. Giống lúa có vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực, là tiền đề để tăng năng suất và sản lượng lúa gạo, góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập cho người trồng lúa, đồng thời ổn định an ninh lương thực.
Công tác giống được chú trọng phát triển cùng với các biện pháp kỹ thuật và khả năng đầu tư sẽ làm cho nền nông nghiệp nước ta phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng nông sản. Giống lúa mới được coi là tốt phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ các yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh hại, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ. Muốn phát huy hết tiềm năng năng suất của giống tốt đó phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu, kinh tế xã hội của từng vùng sản xuất. Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau.
Xác định được một số giống tốt cho từng vùng sản xuất nông n 6 nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi có thời gian. Một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trên diện rộng thì giống đó phải được trồng ở những vùng sinh thái khác nhau. Việc làm đầu tiên là đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như điều kiện bất thuận và khả năng cho năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống đó. Cơ sở thực tiễn Tuyên Quang là tỉnh miền núi có tiểu vùng khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi phía Bắc, có hai mùa rõ rệt.
Hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh, giao thông khá thuận lợi, trình độ dân trí ngày được nâng cao, khả năng tiếp cận, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất khá nhanh, thuận lợi cho việc phát triển vùng chuyên canh sản xuất các giống lúa chất lượng cao tham gia vào thị trường. Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp tại Tuyên Quang tăng trưởng rõ nét cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo.Với diện tích tuy không lớn, đứng thứ bốn mươi bốn so với cả nước và đứng thứ năm trong vùng trung miền núi phía Bắc, nhưng do làm tốt việc cải tiến các khâu kỹ thuật từ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật thâm canh mới về giống, bón phân cân đối, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi…nên năng suất lúa của Tuyên Quang đạt cao nhất so với các tỉnh trong vùng trung du miền núi phía Bắc, đồng thời cao hơn bình quân chung của các tỉnh miền Bắc và của cả nước. Sản lượng lúa năm 2008 đạt trên 255 ngàn tấn, đứng thứ tư trong vùng sau Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ. Do ứng dụng nhanh các giải pháp kỹ thuật đã góp phần đưa năng suất lúa tăng từ 37,02tạ/ ha năm 1996 lên 56,7tạ/ha năm 2008, lương thực bình quân đầu người tăng từ 231kg/người năm 1996 lên 450kg/ người năm 2010 (Sở Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang, 2011)[34].
Hiện nay, diện tích gieo cấy lúa của Tuyên Quang ổn định khoảng 45. Năm 1996, diện tích gieo cấy lúa là 40.508 ha, do làm tốt công tác thuỷ lợi, kiên cố kênh mương nên diện tích gieo cấy lúa đạt cao nhất là 47.054 ha vào năm n 7 2003, sau đó giảm dần do xây dựng công trình thuỷ điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang và một phần diện tích lúa có hiệu quả thấp chuyển đổi sang trồng cây khác. Đến năm 2008, diện tích gieo cấy lúa là 45. Với chủ trương mở rộng diện tích gieo cấy lúa lai và cải tiến bộ giống lúa thuần nên năng suất lúa trung bình của tỉnh Tuyên Quang đã tăng từ 37,02 tạ/ha năm 1996 lên 56,7 tạ/ha năm 2008, từ đó góp phần quan trọng trong việc tăng nhanh sản lượng lương thực của tỉnh.
Năm 1996, diện tích gieo cấy lúa lai của tỉnh mới chiếm 15 % tổng diện tích, đến năm 2008 diện tích gieo cấy lúa lai đã tăng lên 50% diện tích toàn tỉnh. Những năm trước đây, các giống lúa thuần CR203, Ải 32, Ải Mai Hương, S96, Bao thai…được gieo trồng phổ biến. Đây là những giống lúa đã cũ, khả năng chống chịu sâu bệnh hạn chế, đã sử dụng trong nhiều năm nên giống bị thoái hoá, năng suất, chất lượng thấp. Từ năm 1998 đến nay, tỉnh Tuyên Quang đã tập trung cải tiến bộ giống lúa thuần, đưa một số giống có năng suất cao, chất lượng tốt như Khang dân 18, Q5, HT1, TBR1…vào cơ cấu giống đã góp phần tăng năng suất lúa thuần từ 33,52 tạ/ha vào năm 1996 lên 55,7 tạ/ha vào năm 2010.
Nhìn chung so với cả nước, năng suất lúa của tỉnh Tuyên Quang khá cao, năm 2008 năng suất lúa bình quân của tỉnh đạt 56, 7tạ/ha, cao hơn trung bình cả nước 5,8 tạ/ha, đứng đầu các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc, cao hơn bình quân các tỉnh trong vùng 10 tạ/ha…Có được kết quả như vậy là do các cấp, các ngành của tỉnh đã thường xuyên quan tâm, hướng dẫn, đôn đốc chỉ đạo cải tiến các khâu kỹ thuật đồng bộ như giống, thời vụ, phân bón, biện pháp canh tác… Việc chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu giống, từ gieo cấy lúa thuần năng suất thấp sang gieo cấy lúa lai và lúa thuần năng suất cao, đồng thời chuyển đổi cơ cấu giống lúa từ năng suất cao sang chất lượng tốt đáp ứng như cầu tiêu dùng được các vùng trọng điểm lúa của tỉnh và bà con nông dân đồng tình hưởng ứng. Năm 2005, diện tích gieo cấy lúa thuần chất lượng của cả tỉnh chỉ khoảng gần 100 ha, chủ yếu tập trung ở thị xã Tuyên Quang, một số xã của huyện Yên Sơn thì đến năm 2008 đã là 2.000 ha và chỉ trong vụ xuân n 8 năm 2010 đã tăng lên 1800 ha. Bước đầu hình thành các vùng sản xuất lúa chất lượng như: Hưng Thành, Ỷ La, An Tường (thị xã Tuyên Quang), Minh Hương, Phù Lưu, thị trấn Tân Yên (huyện Hàm Yên), Hoàng Khai, Kim Phú, Nhữ Hán, Mỹ Bằng (huyện Yên Sơn), Tân An, Phúc Thịnh, Tân Thịnh (huyện Chiêm Hoá)…đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất. Các giống chất lượng mới chỉ tập trung vào giống lúa Hương thơm số 1 và một ít diện tích Bắc thơm số 7 và Hương cốm.
Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào ở trong tỉnh đề cập đến hiệu quả và những hạn chế của các giống lúa này, đồng thời cũng cần bổ sung một số giống lúa mới chất lượng cao, năng suất khá vào sản xuất nhằm đa dạng cơ cấu giống lúa chất lượng cao góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế từ sản xuất lúa. Nhu cầu lương thực trong nước và trên thế giới 1. Nhu cầu lương thực trên thế giới Gạo là lương thực quan trọng trong những bữa ăn hàng ngày của người dân ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Châu Á gạo là nguồn cung cấp calori chủ yếu, đóng góp 56 % năng lượng, 42,9 % protein hàng ngày [35].
Nó đặc biệt quan trọng đối với những người nghèo, khi mà lương thực cung cấp tới 70 % năng lượng và protein thông qua bữa ăn hàng ngày. Tuỳ theo truyền thống ẩm thực và thu nhập của các quốc gia, bộ phận dân cư khác nhau mà yêu cầu về chất lượng gạo cũng khác nhau. Các nghiên cứu của Kaosai và Trung tâm thông tin Bộ nông nghiệp (2001) [32] cho thấy: Tại thị trường Hồng Kông các loại gạo hạt dài, tỷ lệ gạo nguyên cao, cơm mềm luôn được bán với giá cao. Tại Rome các loại gạo Japonica được ưa chuộng.
Trái lại khách hàng Tây Á và Italia lại ưa chuộng gạo đục và cơm cứng. Người Nhật Bản ưa gạo tròn, mềm ướt, thật trắng không có mùi thơm. Còn thị trường và người Thái Lan lại thích gạo hạt dài, cơm khô. Những nơi mà gạo là lương thực thứ yếu (Châu Âu) thì họ yêu cầu loại gạo tốt.
Gạo 5 – 10% tấm được tiêu thụ nhiều ở Tây Âu và 10-13% ở các nước Đông Âu. Ngày nay, loại gạo hạt dài chiếm ưu thế trên thị trường Tây n 9 Âu. Một số nước như Hà Lan, Bỉ, Thuỵ Sĩ, Anh và một số vùng nước Pháp có chiều hướng tăng các món ăn phương Đông nên sử dụng nhiều loại gạo hạt dài. Trong khi đó ở các nước Đông Âu người tiêu dùng lại thích dùng loại gạo hạy tròn hơn.
Gần 90% dân số Bangladesh và phần lớn dân số Ấn Độ, Srilanka, Pakistan, các nước thuộc Châu Phi tiêu dùng loại gạo đồ, còn gạo nếp được tiêu thụ chính ở Lào, Camphuchia và một số vùng ở Thái Lan (FAO, 1998) [42]. Hàng năm thị trường toàn cầu tiêu thụ khoảng 23 triệu tấn gạo, trong đó các Quốc gia Châu Á nhập khẩu nhiều nhất chiếm 49% tổng nhập khẩu toàn thế giới nhất là Philippine và Indonesia. Theo USDA (2001) dự báo những năm tiếp theo tới đây, Thái Lan, Việt nam, Mỹ, Ấn Độ vẫn là các Quốc gia xuất khẩu gạo chủ yếu. Trong những năm gần đây, giá lương thực trên thế giới liên tục tăng cao, đẩy thế giới vào một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu.