Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Tóm tắt sơ lược các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Tác giả sẽ trình bày vắn tắt về lịch sử hình thành và phát triển IFRS, tổng hợp các cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu trước về định nghĩa khái niệm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khái niệm IFRS và kinh nghiệm áp dụng IFRS của một số quốc gia trên thế giới. Từ đó xác định nhu cầu cần thiết của việc áp dụng IFRS các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, cụ thể là tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Trong chương này, tác giả cũng đề cập đến các lý thuyết nền làm cơ sở xây dựng cho các nhân tố trong mô hình, các giả thuyết nghiên cứu và chiều tác động mong đợi của từng nhân tố.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Từ cơ sở lý thuyết nghiên cứu đã được tác giả tổng hợp và phân tích ở chương 2, tác giả trình bày quy trình nghiên cứu theo các bước từ xây dựng thang đo, xác định cỡ mẫu nghiên cứu, thu thập dữ liệu và thực hiện các kỹ thuật phân tích định lượng nhằm tìm hiểu về mức độ tác động của các nhân tố dựa vào phần mềm SPSS 26. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả sẽ trình bày kết quả phân tích dữ liệu từ phần mềm, đánh giá xem các dữ liệu thu thập, thang đo nhân tố và kết quả nghiên cứu có phù hợp để đại diện cho tổng thể một cách có ý nghĩa ở mức độ chấp nhận được hay không. Cùng với đó là bàn luận, nhận định, giải thích về những điểm giống và khác biệt so với các nghiên cứu trước. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trong chương này, tác giả sẽ tổng kết lại mục tiêu nghiên cứu, các bước thực hiện phân tích, kết quả thu được và thông qua đó trình bày quan điểm của bản thân về những gợi ý chính sách cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại địa bàn 7 thành phố Hồ Chí Minh với mục đích nâng cao mức độ sẵn sàng và chuẩn bị cho việc áp dụng tự nguyện lẫn bắt buộc IFRS trong tương lai.
Sau cùng là những điểm hạn chế của nghiên cứu và đề xuất cho các nghiên cứu trong tương lai. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS ở những cấp độ khác nhau. Tác giả nhận thấy rằng các nghiên cứu ở cấp độ quốc gia thường tập trung chủ yếu vào các nhân tố tố tác động bên ngoài (môi trường kinh doanh, pháp lý, văn hóa, chính trị,.), còn ở cấp độ doanh nghiệp thì tập trung nhiều hơn vào các nhân tố tác động bên trong (thái độ, hành vi và nhận thức). Do đó, trong chương này tác giả sẽ thông qua việc khảo lược các nghiên cứu trong và ngoài nước để tổng hợp, phân tích và xác định khoảng trống liên quan đến chủ đề nghiên cứu.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 1.1 Các nhân tố bên ngoài tác động đến việc áp dụng IFRS Archambault (2009) đã sử dụng cách tiếp cận theo mô hình nghiên cứu thực nghiệm của Archambault (2003) để nghiên cứu về việc áp dụng IFRS ở cấp độ quốc gia.
Mô hình này xem xét việc công bố thông tin doanh nghiệp như một chức năng của văn hóa, hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế, hệ thống tài chính và điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên, do mục tiêu nghiên cứu ở cấp độ quốc gia nên bài viết tập chỉ trung vào việc xác định liệu văn hóa quốc gia, hệ thống chính trị và hệ thống kinh tế có ảnh hưởng đến chính sách áp dụng IFRS hay không, hệ thống tài chính và điều hành doanh nghiệp sẽ không được xem xét. Tác giả đã phát triển các giả thuyết nghiên cứu thông qua việc kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước. Các yếu tố là “văn hóa, hệ thống chính trị và hệ thống kinh tế” được đo lường bằng 8 nhân tố là “trình độ văn hóa (Doupnik và Salter, 1995); mức độ tự do chính trị (Goodrich, 1986; Deese, 1998; Salter, 1998); sử dụng thông luật (Ball và cộng sự, 2000); sự phát triển kinh tế (Joshi và Ramadhan, 2002); tỷ lệ lạm phát (Archambault và Archambault, 1998); số lượng các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán (Dumontier và Raffournier, 1998); đầu tư nước ngoài (Murphy, 2000); mức viện trợ nước ngoài (Mir và Rahaman, 2005)”.Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu từ 133 quốc gia trên khắp thế giới dựa trên thông tin công bố trên IAS Plus (Deloitte, 2004) và xem xét các lựa chọn trước năm 2005 để tránh những tác động của Liên Minh Châu Âu.
Tác giả thực hiện phân tích 9 mô hình hồi quy từng bước theo phương pháp bình phương tối thiểu (Least-squares regression) và kết quả nhận được cho thấy chỉ có ba biến quan sát là trình độ văn hóa, sự phát triển kinh tế và hoạt động nhập khẩu là có tác động tích cực đến việc áp dụng IFRS ở cấp độ quốc gia. Hạn chế của nghiên cứu này là chỉ tập trung ở vào các yếu tố liên quan đến cấp độ quốc gia, các nghiên cứu trong tương lai có thể phát triển thêm các yếu tố liên quan đến cấp độ doanh nghiệp. Shima và Yang (2012) đã tập trung xem xét các yếu tố trong khuôn khổ toàn diện của CM (Choi và Meek, 2008) đóng vai trò như thế nào đối với quyết định áp dụng IFRS. Trong khuôn khổ của CM, 8 nhân tố liên quan đến một quốc gia được cho là có ảnh hưởng đáng kể đến sự khác biệt trong hệ thống kế toán, bao gồm “nguồn lực tài chính; hệ thống pháp luật; thuế; sự ràng buộc chính trị và kinh tế; lạm phát; phát triển kinh tế; giáo dục; và văn hoá”.
Dựa trên lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976), mô hình tám nhân tố tác động của CM cũng như kế thừa các kết quả nghiên cứu trước, tác giả đã phát triển mô hình nghiên cứu của mình. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập dựa trên những khảo sát về các yêu cầu niêm yết từ năm 2000 đến 2007 của 73 quốc gia trên thời giới, được bổ sung và kiểm tra chéo với dữ liệu từ IASB và Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Quan sát các Tiêu chuẩn và Quy tắc Quốc gia (ROSC). Tác giả sử dụng kiểm định Hausman và mô hình hồi quy tuyến tính để phân tích dữ liệu nghiên cứu. Kết quả hồi quy cho thấy hầu hết các hệ số đều mang dấu dự đoán, các biến có tác động tích cực đến việc áp dụng IFRS là nguồn tài trợ vốn từ vay nợ nước ngoài, văn hóa, hệ thống pháp luật, liên minh thương mại, trình độ học vấn, mức độ e ngại rủi ro, sự phát triển kinh tế; các biến có tác động ngược chiều là thị trường vốn chủ sở hữu, thuế và lạm phát.
Kết quả của nghiên cứu này mang lại ba hàm ý có liên quan đến việc áp dụng IFRS. Thứ nhất, xu hướng “toàn cầu hóa” trên thế giới đã tạo động lực cho các quốc gia áp dụng IFRS như một chiếc cầu nối tăng cường thương mại. Thứ hai, nhu cầu đầu tư và tài trợ nước ngoài là “báo hiệu” cho các quốc gia áp dụng IFRS. Cuối cùng, có một số khía cạnh môi trường trong nước cản trở việc áp dụng IFRS như, chẳng hạn như đề cao tầm quan trọng của thuế, tình trạng lạm phát cao và thị trường vốn lớn.
Hạn chế của bài nghiên cứu này là chỉ giới 10 hạn trong mô hình CM, nghiên cứu trong tương lai có thể bao gồm các mô hình thay thế và xem xét lại các kết quả này khi IASB tiếp tục nỗ lực xây dựng và sửa đổi IFRS. Mục tiêu chính trong bài nghiên cứu Zehri và Chouaibi (2013) là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng IAS/IFRS của 74 quốc gia trên thế giới cũng như đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này trong năm 2008. Dựa trên nghiên cứu được thực hiện bởi Zeghal và Mhedhbi (2006) về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS tại các nước đang phát triển, tác giả đã phát triển các giả thuyết nghiên cứu nhằm kiểm định sự phù hợp trong những phát hiện của Zeghal và Mhedhbi (2006) sau 5 năm chuyển đổi từ IAS sang IFRS, cũng như bổ sung các biến khác liên quan đến hệ thống pháp luật và môi trường chính trị. Theo nghiên cứu của Zeghal và Mhedhbi (2006) tại 32 quốc gia đang phát triển thì thị trường vốn, trình độ giáo dục tiên tiến và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao có ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS.
Từ nhận định trên và khảo lược một số nghiên cứu trước có quan điểm tương tự (Hofsted,1980; Gray và Radebaugh, 1997; Nobes, 1998; Woolly, 1998; Street, 2002) tác giả phát triển bốn giả thuyết nghiên cứu có liên quan từ H1 đến H7. Các biến độc lập được sử dụng cho mô hình lần lượt là tốc độ tăng trưởng kinh tế, trình độ học vấn, văn hóa, thị trường vốn, đầu tư nước ngoài, hệ thống pháp luật và chính trị. Thông qua trang web của IAS, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu của 74 quốc gia đang phát triển, chia làm hai nhóm là 37 quốc gia đã áp dụng và 37 quốc gia chưa áp dụng IFRS. Mô hình hồi quy theo phương trình logit được trình bày trong bài nghiên cứu với biến phụ thuộc Pi là xác suất áp dụng IAS/IFRS trong năm 2008 và 7 biến độc lập.
Tác giả thực hiện thống kê mô tả, kiểm tra mức độ phù hợp của mô hình tổng thể với ý nghĩa thống kê nhỏ hơn 5%. Các biến có tác động tích cực đến mô hình nghiên cứu lần lượt là trình độ học vấn và hệ thống pháp luật. Đầu tư từ nước ngoài có tác động tiêu cực đến mô hình nghiên cứu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế, văn hóa, thị trường vốn và yếu tố chính trị không mang ý nghĩa thống kê do đó bị bác bỏ khỏi mô hình nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng quyết định áp dụng IFRS có liên quan chặt chẽ đến các nước đang phát triển môi trường thể chế (trên hết là hệ thống luật pháp) cũng như đến dữ liệu kinh tế vĩ mô của họ (tức là mức tăng trưởng kinh tế và 11 giáo dục của các quốc gia này).