Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TRONG WEBSITE 1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Website Website là một tập hợp các trang web (web pages) bao gồm văn bản, hình ảnh, video, flash v. thường chỉ nằm trong một tên miền (domain name) hoặc tên miền phụ (subdomain)[2]. Trang web được lưu trữ (web hosting) trên máy chủ web (web server) có thể truy cập thông qua Internet.
World Wide Web - mạng lưới toàn cầu là một không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy nhập (đọc và viết) qua các máy tính nối với mạng Internet [2]. Thuật ngữ này thường được hiểu nhầm là từ đồng nghĩa với chính thuật ngữ Internet. Nhưng Web thực ra chỉ là một trong các dịch vụ chạy trên Internet, chẳng hạn như dịch vụ thư điện tử. Web được phát minh và đưa vào sử dụng vào khoảng năm 1990, 1991 bởi viện sĩ Viện Hàn lâm Anh Tim Berners-Lee và Robert Cailliau (Bỉ) tại CERN, Geneva, Switzerland.
Các tài liệu trên World Wide Web được lưu trữ trong một hệ thống siêu văn bản (hypertext), đặt tại các máy tính trong mạng Internet. Người dùng phải sử dụng một chương trình được gọi là trình duyệt web (web browser) để xem siêu văn bản. Chương trình này sẽ nhận thông tin (documents) tại ô địa chỉ (address) do người sử dụng yêu cầu (thông tin trong ô địa chỉ được gọi là tên miền (domain name), rồi sau đó chương trình sẽ tự động gửi thông tin đến máy chủ (web server) và hiển thị trên màn hình máy tính của người xem. Người dùng có thể theo các liên kết siêu văn bản (hyperlink) trên mỗi trang web để nối với các tài liệu khác hoặc gửi thông tin phản hồi theo máy chủ trong một quá trình tương tác.
Hoạt động truy tìm theo các siêu liên kết thường được gọi là duyệt Web. Quá trình này cho phép người dùng có thể lướt các trang web để lấy thông tin. Tuy nhiên độ chính xác và chứng thực của thông tin không được đảm bảo. Trình duyệt web là một phần mềm ứng dụng cho phép người sử dụng xem và tương tác với các văn bản, hình ảnh, đoạn phim, nhạc, trò chơi và các thông tin khác ở trên một trang web của một địa chỉ web trên mạng toàn cầu hoặc mạng nội bộ [2].
Văn bản và hình ảnh trên một trang web có thể chứa siêu liên kết tới các trang web khác của cùng một địa chỉ web hoặc địa chỉ web khác. Trình duyệt web cho phép người sử dụng truy cập các thông tin trên các trang web một cách nhanh chóng và dễ dàng thông qua các liên kết đó. Trình duyệt web đọc định dạng HTML để hiển thị, do vậy một trang web có thể hiển thị khác nhau trên các trình duyệt khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download :5 add luanvanchat@agmail.com Website đóng vai trò là một văn phòng hay một cửa hàng trên mạng Internet – nơi giới thiệu thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm hoặc dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp… Có thể coi website chính là bộ mặt của doanh nghiệp, là nơi để đón tiếp và giao dịch với các khách hàng, đối tác trên Internet.
Website là nơi giúp khách hàng tìm kiếm thông tin về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, cung cấp cho khách hàng thông tin về doanh nghiệp, về sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp một cách nhanh chóng. Thông qua website, thông tin cung cấp cho khách hàng là không hạn chế, khách hàng hay đối tác có thể tìm kiếm thông tin dễ dàng vào bất kỳ lúc nào. Website giúp quảng bá về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp ở thị trường 24/24, qua đó mà tiết kiệm được một phần chi phí quảng cáo so với việc quảng cáo qua báo đài hay các phương tiện khác. Website hỗ trợ mở rộng cơ hội tìm kiếm khách hàng và đối tác cho doanh nghiệp không chỉ ở trong nước mà còn ở ngoài nước.
Website mang đến cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích và nâng cao tính chuyên nghiệp của doanh nghiệp.2 Cơ sở dữ liệu, hệ quản trị cơ sở dữ liệu CSDL là một bộ sưu tập rất lớn về các loại dữ liệu tác nghiệp, bao gồm các loại dữ liệu âm thanh, tiếng nói, chữ viết, văn bản, đồ họa, hình ảnh tĩnh hay hình ảnh động… được mã hóa dưới dạng các chuỗi bit và được lưu trữ dưới dạng file dữ liệu trong các bộ nhớ của máy tính[1]. Cấu trúc lưu trữ dữ liệu tuân theo các quy tắc dựa trên lý thuyết toán học. CSDL phản ánh trung thực thế giới dữ liệu thực hiện khách quan. CSDL là tài nguyên thông tin chung cho nhiều người cùng sử dụng.
Bất kỳ người sử dụng nào trên mạng máy tính, tại các thiết bị đầu cuối, về nguyên tắc có quyền truy cập khai thác toàn bộ hay một phần dữ liệu theo chế độ trực tuyến hay tương tác mà không phụ thuộc vào vị trí địa lý của người sử dụng với các tài nguyên đó. Một cơ sở dữ liệu có thể có cỡ tuỳ ý và có độ phức tạp thay đổi. Có những cơ sở dữ liệu chỉ gồm vài trăm bản ghi (như cơ sở dữ liệu phục vụ việc quản lý lương ở một cơ quan nhỏ), và có những cơ sở dữ liệu có dung lượng rất lớn (như các cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc tính cước điện thoại, quản lý nhân sự trên một phạm vi lớn). Các CSDL phải được tổ chức quản lý sao cho những người sử dụng có thể tìm kiếm dữ liệu, cập nhật dữ liệu và lấy dữ liệu ra khi cần thiết.
Một CSDL có thể được tạo ra và duy trì một cách thủ công và cũng có thể được tin học hoá. Một CSDL tin học hoá được tạo ra và duy trì bằng bằng một nhóm chương trình ứng dụng hoặc bằng một hệ quản trị CSDL. Một hệ quản trị CSDL là một tập hợp chương trình giúp cho người sử dụng tạo ra, duy trì và khai thác một cơ sở dữ liệu. Nó là một hệ thống phần mềm phổ dụng, LUAN VAN CHAT LUONG download :6 add luanvanchat@agmail.com làm cho quá trình định nghĩa, xây dựng và thao tác CSDL trở nên dễ dàng cho các ứng dụng khác nhau.3 Hệ quản trị cơ sở dữ liệu trong website Hầu hết các website đều cần phải có CSDL.
CSDL lưu trữ dữ liệu tập trung và hiển thị thông tin cập nhật trong thiết kế web. CSDL được sử dụng để tìm kiếm, sắp xếp, lọc, trình bày thông tin dựa trên yêu cầu website từ người dùng, đảm bảo khả năng truy xuất đồng thời của nhiều người dùng trên dữ liệu. CSDL chứa mã để thực hiện các phép tính thông kê và toán học trên dữ liệu để hỗ trợ các truy vấn được gửi từ trình duyệt web. CSDL giúp bảo mật dữ liệu và trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống khác nhau.
Hoàn thiện hệ thống CSDL cho website là vấn đề vô cùng quan trọng đối với website.4 SQL server SQL Server là một hệ quản trị dữ liệu quan hệ sử dụng câu lệnh SQL để trao đổi dữ liệu giữa máy cài SQL Server và máy Client. Một hệ quản trị CSDL quan hệ (Relational Database Management System – RDBMS) gồm có: databases, datase engine và các chương trình ứng dụng dùng để quản lý các bộ phận trong RDBMS và những dữ liệu khác[8]. Các thành phần cơ bản trong SQL Server gồm có: Dịch vụ báo cáo, CSDL, Dịch vụ tích hợp, Dịch vụ thông báo, Dịch vụ tìm kiếm,… Tất cả kết hợp với nhau tạo thành một giải pháp hoàn chỉnh giúp cho việc phân tích và lưu trữ dữ liệu trở nên dễ dàng hơn. Cơ sở dữ liệu là một engine có khả năng chứa dữ liệu ở các quy mô dưới dạng hỗ trợ và bảng.
Ngoài ra, nó còn có khả năng tự điều chỉnh ví dụ như trả lại tài nguyên cho hệ điều hành khi một người dùng đăng xuất và sử dụng thêm các tài nguyên của máy khi cần. Dịch vụ tích hợp là tập hợp các đối tượng lập trình và các công cụ đồ họa cho việc sao chép, di chuyển và chuyển đổi dữ liệu. Dịch vụ phân tích: Đây là một dịch vụ phân tích dữ liệu rất hay của Microsoft. Dữ liệu khi được lưu trữ mà bạn không thể lấy được những thông tin bổ ích thì coi như không có ý nghĩa gì.
Chính vì thế, công cụ này ra đời giúp bạn trong việc phân tích dữ liệu một cách hiệu quả và dễ dàng bằng cách dùng kỹ thuật khai thác dữ liệu – datamining và khái niệm hình khối nhiều chiều – multi dimendion cubes. Dịch vụ thông báo: Dịch vụ thông báo này là nền tảng cho sự phát triển và triển khai các ứng dụng soạn và gửi thông báo. Ngoài ra, dịch vụ này còn có chức năng gửi thông báo theo dịch thời đến hàng ngàn người dăng ký sử dụng trên nhiều loại thiết bị khác nhau. Dịch vụ báo cáo là một công cụ tạo, quản lý và triển khai báo cáo bao gồm: server và client.
Ngoài ra, nó còn là nền tảng cho việc phát triển và xây dựng các ứng dụng báo cáo. Dịch vụ tìm kiếm là một thành phần đặc biệt trong việc truy vấn và đánh chỉ mục dữ liệu văn bản không cấu LUAN VAN CHAT LUONG download :7 add luanvanchat@agmail.com trúc được lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu SQL Server. Người môi giới dịch vụ là một môi trường lập trình cho việc tạo ra các ứng dụng trong việc nhảy qua các Instance.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ HỆ CƠ SỞ DỮ LIỆU TRONG WEBSITE 1.1 Về website Nhiều người vẫn thường có thói quen sử dụng hai từ World wide web và Internet thay thế cho nhau, nhưng thực ra đây lại là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Internet có nghĩa là một “mạng lưới toàn cầu của các mạng lưới”, liên kết hàng triệu các máy tính cùng chia sẻ thông tin thông qua một tập hợp những giao thức chia sẻ phần mềm.
Ngược lại, có các ứng dụng lại sử dụng mạng Internet như một phương tiện để giao tiếp như thư điện tử, trò chuyện toàn cầu và mạng toàn cầu. Web xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1989 khi nhà vật lý học Tim Berners-Lee muốn tìm ra một cách thức giúp các nhà khoa học trao đổi tài liệu nghiên cứu thông qua Internet. Berners-Lee muốn rằng đó không chỉ là cách in các văn bản trực tiếp trên Internet mà còn là cách hiển thị các đường dẫn để đưa người đọc đến các phần khác của tài liệu, hoặc thậm chí là dẫn đến các tài liệu được đặt ở một nơi khác trên mạng Internet[12]. Điều đó có nghĩa là tạo nên một hệ thống tài liệu được kết nối toàn cầu.
Chỉ trong vài năm, Web đã phát triển lớn mạnh với một tốc độ theo cấp số nhân.