CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG Tổng quan về hệ truyền động khí nén Ứng dụng của hệ truyền động khí nén hiện nay Ngày nay, hệ truyền động khí nén là hệ truyền động thông dụng, được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp. Một số ví dụ về ứng dụng hệ thống truyền động khí nén: sử dụng trong ngành công nghiệp mà ở đó rất dễ gặp vấn đề nguy hiểm, hay xảy cháy nổ như đồ giá kẹp các chi tiết nhựa, chất dẻo; ngành cơ khí như cấp phôi gia công, hàn tự động (Hình 1.1); trong môi trường vệ sinh sạch như công nghệ sản xuất các thiết bị điện tử. Ngoài ra hệ truyền động khí nén được sử dụng trong các dây chuyền sản xuất thực phẩm như: rửa bao bì tự động, chiết nước vào chai, trong các thiết bị vận chuyển và kiểm tra của băng tải, thang máy công nghiệp, thiết bị lò hơi, đóng gói bao bì (Hình 1.2), in ấn, phân loại sản phẩm và trong nghiệp hóa chất, y học, sinh học.1 Dây chuyền hàn tự động (nguồn: weldcom.2 Dây chuyền đóng gói hàng tự động (nguồn: packagingstrategies.3 Bàn tay robot khí nén BionicSoftArm [1] Ngoài việc ứng dụng trong tự động hóa dây chuyền sản xuất, hiện nay với sự phát triển trong lĩnh vực điều khiển chính xác hệ truyền động khí nén (servo pneumatic positioning system) thì hệ truyền động khí nén còn được sử dụng mạnh mẽ trong công nghiệp robot.
Một số ví dụ như: robot khí nén sử dụng trong công nghệ lắp ráp, hàn vỏ ô tô, robot phẫu thuật, nơi đòi hỏi yêu cầu chính xác cao và môi trường sạch; robot thay thế các bộ phận con người, giúp đỡ hoạt động của người khuyết tật.3 là bàn tay robot khí nén BionicSoftArm được phát triển bởi BionicMotionRobot của Festo cho thấy bước phát triển của truyền động khí nén khi tạo ra bàn tay robot có thể chuyển động linh hoạt giống như bàn tay con người. Ưu nhược điểm của hệ truyền động khí nén Hệ truyền động khí nén được sử dụng rộng rãi như trên là do chúng có những lợi thế sau đây: x Truyền động khí nén an toàn và sạch do nguyên liệu sử dụng là không khí. x Chi phí tương đối thấp, yêu cầu bảo trì thấp. x Tạo ra chuyển động thẳng vận tốc lớn mà không yêu cầu hộp số cơ khí.
x Tỉ số trọng lượng trên lực tạo ra cao. x Hoạt động cường độ cao kéo dài mà không có rủi ro về nhiệt độ cao, dải nhiệt độ làm việc rộng. x Hiệu suất cơ học cao, tuổi thọ làm việc dài. x Chi phí vận hành thấp vì chỉ sử dụng năng lượng là khí nén.
x Có thể hoạt động trong môi trường ẩm ướt, bụi bẩn, tính hóa học cao mà không có nguy cơ cháy nổ. x Các thiết bị truyền động khí nén có thể hoạt động trong điều kiện bức xạ, từ trường cũng như các dao động cơ học, nơi mà nhiều bộ truyền động khác bị lỗi. Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm trên, hệ truyền động khí nén có các nhược điểm như: 2 x Dễ bị rò rỉ. x Khí nén thoát ra gây tiếng ồn.
x Do tính nén được của không khí, việc điều khiển chính xác hệ thống trở nên khó khăn. x Vận tốc cơ cấu chấp hành lớn nên dễ xảy ra va đập ở cuối hành trình khi không có giảm chấn.2 Tổng quan về hiện tượng dính-trượt 1.1 Giới thiệu chung về ma sát Như đã biết, khi hai vật thể chuyển động tương đối với nhau luôn xuất hiện lực cản ngược chiều chuyển động, đó là lực ma sát. Đối với kỹ sư điều khiển, sự hiểu biết về ma sát là cần thiết. Trong các ảnh hưởng của ma sát đến hiệu suất của máy, hiện tượng dính-trượt (stick-slip) gây ra những thách thức lớn trong việc điều khiển chính xác chuyển động của máy.
Sự dính-trượt được tạo ra bởi tính phi tuyến của hệ thống, ma sát ở vận tốc thấp. Hiện tượng dính-trượt có thể phát sinh trong quá trình chuyển động ở tốc độ thấp với bất kỳ thiết kế điều khiển nào [2]. Phần lớn các máy điều khiển séc vô được bôi trơn bằng dầu hoặc dầu mỡ. Những chất bôi trơn này được sử dụng rộng rãi vì chúng cung cấp một lớp chất lỏng giữa các bộ phận kim loại cọ xát biến ma sát trượt thành ma sát nhớt và giảm mài mòn đáng kể.
Lớp chất lỏng có thể được duy trì bằng cách bơm chất bôi trơn có áp suất cao vào bề mặt tiếp xúc, được gọi là bôi trơn thủy tĩnh. Tuy nhiên, điều này, đòi hỏi độ phức tạp cơ học lớn và không thể áp dụng cho tất cả các thiết kế truyền động. Kỹ thuật phổ biến hơn là bôi trơn thủy động, trong đó chất bôi trơn được hút vào bề mặt bằng chuyển động của các bộ phận. Bôi trơn thủy động rất đơn giản để thực hiện, yêu cầu chỉ có dầu hoặc mỡ, nhưng bị hạn chế rằng màng chất lỏng được duy trì bằng chuyển động.
Dưới vận tốc tối thiểu, màng chất lỏng bị mất và xảy ra hiện tượng tiếp xúc từ giữa hai bề mặt kim loại rắn. Ngay cả khi không có chất bôi trơn, màng oxit sẽ hình thành trên bề mặt của thép và các vật liệu khác, tạo ra một lớp ranh giới (lớp biên). Khi có chất bôi trơn, phụ gia trong dầu phản ứng với bề mặt để tạo thành lớp ranh giới. Các chất phụ gia này được pha chế để kiểm soát ma sát và độ mài mòn của bề mặt.
Lớp biên là một chất rắn, nhưng vì nó có độ bền cắt thấp hơn, hầu hết sự biến dạng xảy ra lớp này. Nếu lớp biên có lực cắt thấp, ma sát sẽ thấp; nếu nó có độ bám dính tốt với bề mặt và được bổ sung bởi dầu, mài mòn sẽ được giảm bớt. Độ dày lớp ranh giới thay đổi từ kích thước một vài nguyên tử đến một phần nhỏ của micrômet.4, một phần mười micromet là độ dày điển hình của lớp biên hình thành bởi chất phụ gia bôi trơn của dầu công nghiệp.4 Tiếp xúc xảy ra ở bề mặt nhám của hai vật thể [2] Bốn trạng thái ma sát Có bốn trạng thái bôi trơn trong hệ thống bôi trơn bằng dầu, mỡ được mô tả bởi Brian Armstrong-Hélouvry [2] như sau: Không bôi trơn, bôi trơn theo đường biên, bôi trơn nửa ướt, bôi trơn thủy động.5 biểu thị bốn trạng thái bôi trơn theo đường cong Stribeck trong đó lực ma sát là một hàm của vận tốc.5 Đường cong Stribeck [2] x Không bôi trơn Hình 1.6 mô tả tiếp xúc giữa hai vật thể là sự liên kết giữa bề mặt nhám của chúng. Sự liên kết trên có hai hành vi quan trọng: chúng biến dạng đàn hồi, làm phát sinh chuyển động như là bề mặt cứng kết nối với một lò xo, cả lớp biên và bề mặt nhám bị biến dạng dẻo dưới tải làm tăng ma sát tĩnh khi mà sự liên kết có thời gian ở vận tốc bằng không.
Người ta cho rằng không có chuyển động trong khi ma sát tĩnh, không có sự chuyển động khi không trượt. Dahl đã nghiên cứu bằng thực nghiệm và kết luận rằng liên kết trong ma sát tĩnh giống như lò xo, lực tuyến tính với độ dịch chuyển, cho tới chuyển 4 vị giới hạn nơi mà sự đứt gãy xảy ra như Hình 1. Khi có lực tác dụng, bề mặt nhám sẽ bị biến dạng như Hình 1.7, tuy nhiên nó sẽ đàn hồi trở lại khi lực không còn tác dụng, giống như lò xo. Khi tác dụng lực đủ lớn tới lực ma sát tĩnh, liên kết bị phá vỡ, sự trượt hoàn toàn xảy ra như Hình 1.6 Liên kết lý tưởng giữa hai bề mặt trong ma sát tĩnh [2] Hình 1.7 Bề mặt nhám liên kết bị phá vỡ khi có lực tác dụng (hiệu ứng Dahl) [2] Hình 1.8 Thời điểm cắt đứt, trượt hoàn toàn bắt đầu [2] x Bôi trơn theo đường biên Trong chế độ này, vận tốc là không đủ để tạo màng chất lỏng giữa các bề mặt.
Như đã mô tả, lớp biên làm nhiệm vụ bôi trơn, nó rắn, nhưng có lực cắt thấp hơn.9 hiện tượng trượt trong chế độ này được biểu thị. Bởi vì có sự tiếp xúc từ rắn đến rắn, có sự cắt trong lớp biên. Bởi vì bôi trơn theo đường biên là một quá trình cắt trong chất rắn, người ta thường giả định rằng ma sát trong chế độ này cao hơn bôi trơn bằng chất lỏng (cao hơn ma sát trong chế độ bôi trơn hỗn hợp, bôi trơn thủy động). 5 Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng, không nhất thiết độ bền cắt của vật rắn phải lớn hơn độ nhớt của chất lỏng.
Xem xét độ nhớt của thủy tinh: nhiều chất rắn sẽ có lực cắt thấp hơn lực nhớt của chất lỏng này. Chắc chắn bôi trơn theo đường biên làm giảm ma sát tĩnh xuống mức dưới ma sát động và loại bỏ hoàn toàn sự dính-trượt.9 Sự trượt giữa hai bề mặt rắn trong bôi trơn theo đường biên [2] x Bôi trơn hỗn hợp (bôi trơn nửa ướt) Như thể hiện trong Hình 1. chất bôi trơn được hút vào vùng tiếp xúc. Dầu, nhớt được mang đến vào vùng tiếp xúc thông qua chuyển động, trượt hoặc lăn.
Một số bị đẩy ra ngoài do áp suất phát sinh từ bên trong, nhưng độ nhớt ngăn cản chất bôi trơn thoát ra và do đó một màng được hình thành. Quá trình bị chi phối bởi tương tác của độ nhớt chất bôi trơn, tốc độ chuyển động và hình dạng tiếp xúc. Độ nhớt hoặc vận tốc chuyển động càng lớn thì màng chất lỏng càng dày. Khi màng không dày hơn chiều cao của bề mặt nhám, một số tiếp xúc rắn đến rắn sẽ hình thành và sẽ có một phần chất lỏng bôi trơn.
Khi màng đủ dày, quá trình tách hoàn tất và việc bôi trơn hoàn toàn bởi chất lỏng.10 Chuyển động hút chất bôi trơn vào khu vực tiếp xúc [2] Bôi trơn một phần chất lỏng được thể hiện bằng Hình 1. Chế độ này ít được hiểu rõ nhất trong bốn chế độ nêu trên. Các nghiên cứu cho thấy thời gian trễ giữa sự thay đổi vận tốc hoặc tải trọng và sự thay đổi ma sát đến trạng thái ổn định mới của nó, điều này được gọi là độ trễ ma sát (frictional lag). Sự trễ có thể từ mili giây đến hàng chục mili giây và nó tác động đến chuyển động dính-trượt một cách đáng kể.11 Bôi trơn hỗn hợp [2] x Bôi trơn thủy động Chế độ bôi trơn thủy động được mô tả như Hình 1.
Ở chế độ này, vận tốc đạt đến một giá trị nào đó khiến cho chất lỏng được hút và chiếm hoàn toàn trong khoảng không gian giữa hai bề mặt, tiếp xúc rắn-rắn bị loại bỏ, thay bằng tiếp xúc thông qua lớp chất lỏng.