Mở đầu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Chương này sẽ tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu. Các vấn đề về lý luận có liên quan đến lời khen, lời chê của NNGZ. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày kết quả và thảo luận về những phát hiện của nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận 6 Chương 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GZ là thế hệ trẻ được sinh ra cách đây 25 năm và NNGZ được tạo ra trong khoảng 10 năm trở lại đây nên sự phổ biến và nghiên cứu về nó chưa nhiều. Một vài nghiên cứu đáng chú ý trong đó có luận án TS “Ngôn ngữ giới trẻ qua phương tiện truyền thông” (Đỗ Thùy Trang, 2018). Luận án đã nghiên cứu biến thể NN giới trẻ và gọi nó là phương ngữ xã hội của giới trẻ.
Tác giả đã khảo sát, mô tả, phân tích các đặc điểm của biến thể NN giới trẻ từ bình diện cấu trúc và giao tiếp xã hội, điều tra phân tích thái độ NN đối với việc sử dụng NN của giới trẻ. Luận án đã nêu ra rằng: phương ngữ xã hội của giới trẻ là phương ngữ của một nhóm đối tượng trong xã hội và được bộc lộ thông qua ba dạng thức tiêu biểu, nổi bật nhất là chêm xen tiếng Anh, sử dụng tiếng lóng, và kết cấu mới lạ. Theo Đỗ Thuỳ Trang, tiếng lóng được giới trẻ sử dụng bắt nguồn trên cơ sở vốn có của tiếng Việt và đặc điểm cốt lõi của tiếng Việt là sự hài hước, tính sôi động, trẻ trung, thể hiện sự sáng tạo. Kết cấu mới lạ được tạo nên từ bốn phương thức chủ yếu là hiệp vần, cải biên thành ngữ truyền thống, vay mượn và sáng tạo mới trong đó hiệp vần là chủ đạo, mang tính thành ngữ, tính biểu trưng, tính dân tộc và tính thời đại; phản ánh cách nhìn nhận và lối ăn nói mới lạ của giới trẻ trong thời đại hội nhập.
Luận án cũng miêu tả ngôn ngữ giới trẻ ở hai bình diện thuộc phạm trù giao tiếp xã hội: Đặc điểm lựa chọn của ngôn ngữ giao tiếp và mô hình giao tiếp; phân tích và lí giải được phần nào mối tương quan giữa các đặc trưng xã hội (giới tính, tuổi tác và nhóm xã hội) và thái độ ngôn ngữ; cho thấy ngôn ngữ giới trẻ là ngôn ngữ xã hội, luôn vận động và biến đổi, chứa nhiều vấn đề để chúng ta có thể khai thác. Tuy nhiên luận án chưa đề cập rõ NNGZ và cũng chưa nói đến NNGZ của một NN khác. 7 Một quyển sách được người đọc ở tầng lớp trẻ rất ưa chuộng đã đưa ra những quan điểm mới mẻ về ngôn ngữ được sử dụng bởi các thanh thiếu niên, đặc biệt là ở Canada và Hoa Kỳ đó là “Teen Talk: The Language of Adolescents” (Sali A. Nó đã phân tích các từ ngữ và cấu trúc câu được sử dụng bởi thanh thiếu niên trong cuộc sống hàng ngày, và trình bày chúng dưới góc độ ngôn ngữ xã hội học và đưa ra những phân tích về cách thanh thiếu niên sử dụng ngôn ngữ để thể hiện tình cảm.
Theo tôi cuốn sách đã chỉ ra những điểm tích cực mà ngôn ngữ teen đem lại, nó chứa đựng những quy tắc và tính chất đặc trưng riêng, góp phần tạo nên những giá trị văn hóa của hai quốc gia, giúp thanh thiếu niên phát triển kỹ năng giao tiếp và tăng cường các mối quan hệ xã hội. Song cuốn sách chỉ tập trung vào ngôn ngữ teen ở Canada và Hoa Kỳ, không có khả năng áp dụng được cho các nơi khác trên thế giới. Ngoài ra, cuốn sách cũng chưa đề cập đến những tác động tiêu cực của việc sử dụng ngôn ngữ tuổi teen đối với sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của các thanh thiếu niên. Ngoài cuốn sách và luận án nói trên ta không thể không nhắc đến khoá luận tốt nghiệp đại học ngành Việt Nam Học “Tìm hiểu ngôn ngữ “CHAT” của giới trẻ hiện nay qua khảo sát một số mạng xã hội” (Đặng Thị Ngân, 2015).
Qua khoá luận ta thấy ngôn ngữ “chat” không chỉ là ngôn ngữ của giới trẻ mà còn là ngôn ngữ chung của cộng đồng mạng trên một số mạng xã hội, nó có những đặc trưng riêng ở một vài khía cạnh, hoàn toàn khác với ngôn ngữ của những thế hệ khác. Theo tác giả khoá luận, nó có mặt tích cực là tiết kiệm thời gian, tận dụng hình thức viết tắt tối đa của chữ viết tiếng Việt, làm bật lên nét riêng, phong cách dễ thương, tính nhanh nhạy, linh hoạt và thông minh của giới trẻ. Tuy vậy, khoá luận chỉ đề cập tới giới trẻ nói chung chứ không chỉ rõ thế hệ nào, trong giai đoạn nào, độ tuổi nào và chỉ đề cập đến mặt tích cực mà không phân tích cụ thể mặt hạn chế và định hướng. Hành vi khen đã được nghiên cứu khá nhiều ở những nước nói tiếng Anh trên thế giới từ ba thập niên trước.
Pomerantz, người tiên phong 8 nghiên cứu lời khen và cách đáp trả lời khen của người Mỹ, trong công trình nghiên cứu "Compliment responses: Notes on the co-operation of multiple constraints" (1978) đã phát hiện rằng người Mỹ không phải luôn luôn chấp nhận lời khen mà lời hồi đáp có thể thuộc vào ba loại: 1. chấp nhận lời khen (acceptance), 2. từ chối lời khen (rejections), 3. cách nói tránh tự khen ngợi bản thân (self-praise avoidance mechanisms).
Trong nghiên cứu đầu tiên của mình, “Compliment as social strategy” (1980), hai tác giả N. Manes đã nêu lên chức năng của hành động khen là xây dựng và thắt chặt tình đoàn kết gắn bó giữa người khen và người được khen. Trong những năm tiếp theo, các tác giả N. Holmes (1987) tập trung vào giả thuyết này và cung cấp thêm những kết quả rõ ràng để khẳng định giả thuyết ấy chính là chức năng chính của lời khen.
Manes (1983) khẳng định khen phản ánh giá trị văn hóa của một cộng đồng. Herbert (1989) nêu lên một câu hỏi rằng liệu những người bản xứ ở các nước nói tiếng Anh khác, cụ thể là người Nam Phi có dùng theo những cấu trúc lời khen (CTLK) như người Mỹ không. Tác giả cho thấy sự phân tầng trong xã hội là bản chất trong ý thức hệ của người Nam Phi, do đó người Nam Phi ít dùng những hành vi khen trong giao tiếp, trái ngược hẳn với sự thường xuyên dùng hành vi khen của người Mỹ. Người Mỹ thường xuyên sử dụng hành vi khen vì họ cố gắng thiết lập sự gắn bó với đối tác giao tiếp trong một tình huồng mà vị trí xã hội, tầng bậc của họ chưa được xác định.
Ngược lại người Nam Phi không cần phải tận dụng hành vi khen để thiết lập cái mà họ đã sẵn có. Tiếp theo phải kể đến nghiên cứu của J. Holmes (1988) về hành vi khen của người New Zealand. Holmes cho rằng, xã hội New Zealand có nhiều điểm tương đồng với xã hội Mỹ tức là không có sự phân tầng bậc, do đó tần suất sử dụng lời khen cũng có nhiều tương đồng.
Gần đây, khi hướng tiếp cận giao thoa văn hóa ngày càng phổ biến thì việc nghiên cứu lời khen càng thu hút những nhà nghiên cứu, những tác giả viết sách, giáo viên và học viên học tiếng Anh từ những nước sử dụng tiếng 9 Anh như một ngôn ngữ thứ hai. Các nhà nghiên cứu đã phân tích và tiến hành so sánh những điềm tương đồng và khác biệt trong các phát ngôn khen ở từng nền văn hóa khác nhau: - D. Araki (1985) đã tiến hành so sánh mật độ sử dụng lời khen giữa người Mỹ và người Nhật và đưa ra những kết luận: Người Mỹ thường sử dụng lời khen hơn người Nhật. Những đề tài mà người Mỹ thường khen là: ngoại hình, những nét quyến rũ riêng tư; trong khi người Nhật thường xuyên khen công việc, học tập, ngoại hình.
Daikuhara (1986) nghiên cứu sự khác nhau giữa hai nền văn hóa Mỹ - Nhật trong việc khen các thành viên trong gia đình nơi công cộng và kết luận người Mỹ thường xuyên khen các thành viên trong gia đình nơi công cộng trong khi người Nhật hiếm khi làm chuyện này. Batal (1995) tìm hiểu sự giống và khác nhau giữa cách khen của người Ai Cập và người Mỹ và kết luận cấu trúc lời khen (CTLK) của hai cộng đồng này giống nhau (vật được khen + tính từ) nhưng tần suất sử dụng lời khen của người Mỹ nhiều hơn người Ai Cập. Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến khen và hồi đáp khen, như luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thu Hoa “Cấu trúc nghĩa của động từ nói năng “khen”, “tặng”, “chê” (1996). Luận văn tập trung vào việc miêu tả các động từ nói năng, trong đó có hành động khen.
Luận văn chưa nghiên cứu sâu về đặc điểm của hành vi này trong các vấn đề liên quan đến văn hóa và giao thoa văn hóa; “Một vài khảo sát về đặc điểm văn hóa của người châu Âu và người Việt thể hiện qua lời khen” của Bùi Thị Phương Chi và Phạm Thị Thu Hà (2005), đề tài nghiên cứu này tìm hiểu đặc điểm tâm lý, văn hóa của người Châu Âu và người Việt thê hiện qua hành động khen, tuy nhiên chỉ giới hạn trong một nhóm nghiệm thể nhỏ (30 người Việt và 30 người châu Âu), hầu hết là sinh viên đại học, nên kết quả khảo sát chỉ thể hiện được một phần nào đặc điểm tâm lý của hai dân tộc. Nổi bật có luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang “Một số khác biệt giao tiếp Việt - Mỹ trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen” (1999). Tác giả đã so sánh sự khác 10 biệt trong các hình thức xưng hô, các dấu hiệu từ vựng tình thái, cái nên khen và cái không nên khen, các chiến lược tiếp nhận lời khen khác nhau giữa người Việt và người Mỹ. Tuy nhiên trong đề tài này, nhóm nghiệm thể Mỹ là những người sinh sống và làm việc ở Châu Á, nên theo chúng tôi nhóm nghiệm thể này ít nhiều cũng có những ảnh hưởng theo văn hóa của người châu Á.
Đặc biệt là các yếu tố cận ngôn (paralinguistic factors) như ngữ điệu, trọng âm, các yếu tố thuộc ngôn ngữ phi lời nói như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, biểu hiện trên mặt, các yếu tố thuộc môi trường giao tiếp như nơi giao tiếp, thời điểm giao tiếp và trạng thái giao tiếp chưa được đề cập đến.