Chương 1. Tổng quan nghiên cứu lớp biên - lực cản 10 Cx là hệ số lực cản, phụ thuộc vào dạng hình học của vật thể. Khi xét đến lớp biên phát triển trên bề mặt vật thể, hệ số lực cản là tổng của hệ số lực cản hình dạng và hệ số cản ma sát của lớp biên. Một số công thức tính hệ số lực cản được trình bày trong tài liệu [1] và [2].2 Thành phần lực cản của vật ngập chuyển động trong chất lỏng Lực cản của vật thể thông thường có hai thành phần [1], do ma sát trong lớp biên gây nên P và do phân bố của áp suất trên bề mặt vật cản gây nên P ms ap Trong dòng phẳng, ta có: P P ms P ap (1.9) Khi vật rắn nằm trong dòng chảy, nó sẽ gây ra các kích động.
Do đó trong lớp biên, các thông số của dòng chảy sẽ thay đổi. Phân bố áp suất và phân bố lực ma sát trên mặt vật phụ thuộc vào hình dạng, vị trí vật thể trong dòng chảy, vận tốc ở vô cùng khi dòng chưa bị kích động. Chúng được đặc trưng bằng các hệ số lực cản áp suất C P và hệ số lực cản ma sát C F C x CP CF (1.10) Với vận tốc dòng nhỏ, tính nén thực tế không có tác dụng, khi đó ảnh hưởng chính đến hệ số lực cản là hình dạng vật cản và số Reynolds. Sự thay đổi cấu trúc của lớp biên và trạng thái chảy trong lớp biên có ảnh hưởng lớn đến lực cản ma sát.
Với vật thể có hình dáng khí động xấu, dòng bao quanh vật có điểm rời (hình trụ, thuyền thúng…) thì lực cản ma sát nhỏ hơn lực cản áp lực ( P ms < P ap ). Với các vật thể dạng cánh, tấm phẳng …, lực cản có thể tính theo công thức sau: P P ms 1 k (1.3 LỰC CẢN TÀU THỦY 1.1 Khái niệm lực cản tàu thủy Để nghiên cứu tính di động của tàu người ta gắn lên tàu hai hệ trục toạ độ di động x1y1z1, và hệ xyz như hình vẽ. Hai hệ toạ độ này sẽ trùng nhau khi tàu không chuyển động và tạo với nhau một góc chúi hành trình khi tàu chuyển động. Tổng quan nghiên cứu lớp biên - lực cản 11 Hình 1.5 Hệ toạ độ khảo sát chuyển động của tàu Khi tàu chuyển động trong chất lỏng, nó chịu tác động của lực thuỷ - khí động mà trị số của nó phụ thuộc vào khối lượng riêng và độ nhớt của chất lỏng.
Tổng hợp các lực trên bề mặt của tàu bao gồm lực chính R và mô men chính M. Chiếu véctơ chính của lực R lên các trục toạ độ ta được Rx ; Ry ; Rz lần lượt là lực cản chuyển động, lực dạt ngang, lực nâng của tàu.13) trong đó: r - véctơ bán kính của d đối với tâm quy chiếu đã chọn. Lực cản tàu là hình chiếu của véctơ chính của các lực thủy - khí động, tác dụng lên bề mặt thân tàu, theo hướng chuyển động dọc trục của tàu.2 Thành phần lực cản tàu và nguyên nhân xuất hiện Lực cản tàu phụ thuộc vào sự thay đổi cấu trúc dòng chảy bao quanh tàu và phụ thuộc điều kiện tác động bên ngoài như độ sâu, chiều rộng của luồng lạch, sóng gió, dòng chảy, băng, sự thay đổi độ chúi và chiều chìm trung bình, rong, rêu, hà bám ở phần ngâm nước của tàu, sự tăng tốc (lấy đà) và sự hãm quán tính, v. Khi nghiên cứu các thành phần lực cản tàu, người ta giả thiết tàu ở tư thế thẳng chuyển động với tốc độ tịnh tiến là v ở độ sâu không hạn chế trong điều kiện không có sóng, gió và giả thiết về sự độc lập của các thành phần lực cản tàu: các quá trình vật lý gây ra từng thành phần lực cản tổng là độc lập nhau, những hiện tượng xảy ra trong nước không ảnh hưởng tới lực cản không khí.
Quá trình hình thành lớp biên và sự tạo sóng phát sinh đồng thời trong chất lỏng và có ảnh hưởng lẫn nhau. Song, mức độ ảnh hưởng trong phần lớn các trường hợp là không lớn. Tổng quan nghiên cứu lớp biên - lực cản 12 Lực cản chuyển động của tàu ( Rx ) bao gồm: lực cản nhớt, lực cản sóng và lực cản bổ sung được qui định là lực cản do ảnh hưởng các phần nhô và độ nhám bề mặt vốn có của thân tàu cũng như lực cản của không khí. Các thành phần lực cản phụ thuộc vào kích thước, hình dáng thân tàu và số Froude ( Fr) cũng như hệ số béo thể tích và chế độ chuyển động của tàu.
Với tàu vận tải: lực cản nhớt đóng vai trò quyết định, ảnh hưởng của lực cản không khí đến chuyển động của tàu khi không có gió là không lớn và nó phụ thuộc vào tốc độ tàu cũng như hình dạng phần khô trên mặt nước của thân tàu, giá trị của nó chiếm khoảng (1 3)% lực cản toàn bộ của tàu. Rx RV RW R (1.16) d AP A AA Rx R RVP RW R R R (1.17) F AP A AA trong đó : RW - Lực cản sóng, do các phần tử chất lỏng ở gần mặt tự do của chất lỏng tách ra từ vị trí cân bằng, tạo một hệ thống sóng làm thay đổi trường vận tốc và áp suất dọc theo bề mặt tàu. Công do lực cản sóng được tiêu tốn cho sự tạo thành năng lượng sóng. Trong vùng số Fr = (0,16 0,18), lực cản sóng gần bằng không RV - Lực cản nhớt, xuất hiện do hiện tượng tách lớp biên, bao gồm lực cản hình dáng và lực cản ma sát.
RF - Lực cản ma sát, xuất hiện do ảnh hưởng độ nhớt của chất lỏng gây ma sát vào vỏ tàu, chịu ảnh hưởng độ cong dọc và ngang thân tàu. Công của lực cản ma sát được tiêu tốn cho sự hình thành lớp biên và dòng theo. RVP - Lực cản hình dáng, xuất hiện do ảnh hưởng của độ nhớt hình thành lớp biên dọc theo bề mặt tàu và tạo ra dòng theo làm giảm áp suất ở vùng đuôi tàu. Lực cản hình dáng phụ thuộc vào hình dáng thân tàu.
R - Lực cản bổ sung do ảnh hưởng các phần nhô, độ nhám bề mặt thân tàu, d ảnh hưởng của không khí. Thành phần lực cản này trong khai thác tàu được tính toán theo phương pháp đặc biệt hoặc tính dựa vào hệ số hiệu chỉnh lực cản ứng với điều kiện làm việc bình thường của tàu. Tổng quan nghiên cứu lớp biên - lực cản 13 R - Lực cản do các phần nhô ra khỏi lớp biên phá hủy đặc tính dòng chảy AP bao quanh thân tàu, thuộc bề mặt ngâm nước của tàu như: ky đuôi, ky hông, vây giảm lắc, bánh lái, giá đỡ trục chân vịt và trục chân vịt… R - Lực cản do độ nhám bề mặt - hậu quả của các đặc trưng vật lý và phương A pháp gia công bề mặt. Thành phần này được tính toán bằng các phương pháp đặc biệt, liên quan đến tính chất ảnh hưởng của điều kiện khai thác tàu và không tồn tại trong điều kiện thực nghiệm mô hình tàu.
R - Lực cản không khí là phản lực khí động của dòng không khí trên bề mặt AA khô thân tàu (thượng tầng và lầu, các cột, các ống, dây chằng, dây buộc, v.) với vận tốc bằng vận tốc tàu. Giá trị lực cản này chiếm không quá 3% lực cản toàn phần nên thường được bỏ qua.4 PHƢƠNG PHÁP GIẢM LỰC CẢN TÀU VÀ MỘT SỐ CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU Hiện nay, trên thế giới đã nghiên cứu bằng lý thuyết và thực nghiệm những phương pháp giảm lực cản của vật chuyển động trong chất lỏng và ứng dụng triển khai ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực Kỹ thuật tàu thủy. Các phương pháp giảm lực cản của tàu dựa trên tác động có chủ động vào dòng chảy bao quanh thân tàu mà bản chất là điều khiển lớp biên (hình 1.1 Giảm lực cản nhớt Lực cản nhớt đóng vai trò chính trong tổng lực cản của tàu. Trong đó, lực cản ma sát chiếm khoảng (80 ÷ 90)% lực cản nhớt, lực cản hình dáng chiếm khoảng (10 ÷ 20)% lực cản nhớt [5].
Những tàu chìm hoàn toàn trong nước (tàu ngầm), hầu như chỉ có lực cản nhớt. Việc tìm các biện pháp giảm lực cản nhớt là rất quan trọng. Cách thức giảm lực cản nhớt chủ yếu là thay đổi các đặc tính dòng chảy trong lớp biên theo hướng nhất định. Cụ thể như sau: 1.1 Tầng hóa lớp biên Lý thuyết và thực nghiệm chỉ ra rằng, hệ số ma sát đặc trưng cho lực cản ma sát nhớt trên bề mặt tàu với cùng một số Reynolds trong lớp biên tầng nhỏ hơn rất nhiều so với lớp biên rối.
Phần lớn các công trình nghiên cứu giảm lực cản bằng phương pháp kéo dài lớp biên tầng đã đạt được kết quả đáng kể (trang 244 [5]). Tổng quan nghiên cứu lớp biên - lực cản 14 Điều khiển lớp biên nhằm giảm lực cản Giảm lực cản nhớt Giảm lực cản hình dáng Tầng hóa Giảm Bề mặt Cải thiện Hút Thổi Điện lớp biên ma sát rối dao động tuyến hình hướng pháp hướng tiếp Từ trường Tăng độ béo Dao động Dao động Bề mặt Tạo lớp phù Tăng độ béo profil vận Tạo lớp chất lỏng có tính profil vận tốc áp suất áp suất dao động bề mặt tốc hoặc tăng chiều chất khác hoặc bọt khí Giảm chiều dày dày lớp biên lớp biên Giảm chiều dày Chất lớplỏng biên có tính chất không Chất lỏng có tính chất thay Điện Thổi chất lỏng Giảm Thổi Màng Phản ứng Làm Sủi đổi theo chiều dày lớp biên đổi theo chiều dày lớp biên từ trường cùng loại độ nhám sủi hóa học mát bọt Gradien Hút Điện Làm Đưa chất Chất Tạo lớp chất lỏng Thổi Chất lỏng Chất lỏng Nhân Tự áp suất từ nóng lỏng có độ lỏng phi với tính chất khác khí phi Newton khác tạo nhiên âm trường bề mặt nhớt khác Newton Hút phân bố Hút theo màng Hút theo khe Hình 1.6 Điều khiển lớp biên giảm lực cản tàu Chương 1. Tổng quan nghiên cứu lớp biên - lực cản 15 Khi số Reynolds lớn, dòng chảy bao quanh thân tàu là rối hoàn toàn nên có thể dùng phương pháp nhân tạo tầng hóa lớp biên, bằng cách tạo ra những hình dạng đặc biệt cho tàu thủy mà ở đó trên phần lớn chiều dài tàu có sự sụt giảm áp suất.