Mở đầu Học viên: Nguyễn Hữu Nhơn Trang 13 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC LỚP CAO HỌC KỸ THUẬT HẠ TẦNG ĐT - K. TRẦN TUẤN HIỆP 1.1/ Tính cấp thiết của đề tài 1.2/ Mục tiêu nghiên cứu 1.3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.4/ Phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thoát nước và các phương pháp xử lý nước thải đô thị 2.1/ Khái niệm về thoát nước 2.2/ Các loại nước thải và các hệ thống thoát nước trong Thành phố 2.3/ Điều kiện thu nhận nước thải vào mạng lưới nước Thành phố 2.4/ Điều kiện xả nước thải vào nguồn tiếp nhận 2.5/ Các phương pháp xử lý nước thải đô thị Chương 3: Phân tích, đánh giá hiện trạng thoát nước, xử lý nước thải đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh.1/ Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.2/ Hiện trang thoát nước, xử lý nước thải tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 4: Nghiên cứu giải pháp xử lý nước thải không tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh 4.1/ Phân tích nội dung và đánh giá các dự án đầu tư đã được thiết lập: 4.2/ Nghiên cứu giải pháp xử lý nước thải không tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh Chương 5: Kết luận và kıến nghị 5.2/ Kiến nghị về các giải pháp và công nghệ.3/ Kiến nghị về giải pháp nguồn vốn đầu tư và thu hồi vốn. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu trong nội thị Thành phố Hồ Chí Minh và các quận, huyện xung quanh có diện tích khoảng 650km2 (xem hình minh họa 1.
Học viên: Nguyễn Hữu Nhơn Trang 14 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC LỚP CAO HỌC KỸ THUẬT HẠ TẦNG ĐT - K. TRẦN TUẤN HIỆP BẢN ĐỒ CÁC QUẬN HUYỆN THUỘC KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – CÁC KHU VỰC LÂN CẬN TIẾP GIÁP VỚI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Hình 1.3: Bản đồ các quận, huyện thuộc TP.Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận tiếp giáp. Học viên: Nguyễn Hữu Nhơn Trang 15 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC LỚP CAO HỌC KỸ THUẬT HẠ TẦNG ĐT - K. TRẦN TUẤN HIỆP Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có cao độ chênh lệch rất lớn và thay đổi do hiện tượng sụt lún nền đất.
Việc đo đạt, quan trắc kiểm tra cao độ địa hình cũng được quan tâm vì Thành phố Hồ Chí Minh có độ lún đất nền khá nhanh do việc xây dựng ào ạt và vấn đề khai thác nước ngầm tự phát trong những năm gần đây tăng cao. Cao độ địa hình khoảng từ +0,5 đến 30m (so với cao độ quốc gia), độ dốc địa hình của khu vực nói chung từ Bắc – Đông Bắc đến Tây – Tây Nam. - Bờ Tây của sông Sài Gòn và sông Nhà Bè: Vùng phía Tây hầu như là khu vực đất thấp với cao độ mặt đất từ +0,7 đến 1,0m tiếp xúc huyện Bình Chánh. Vùng trung tâm là khu vực đất cao, cao độ mặt đất từ +2,0 đến +8,0m tiếp xúc khu vực gò cao như quận Gò Vấp, Hóc Môn.
Vùng phía Bắc dọc theo sông Sài Gòn là khu vực đất thấp với cao độ mặt đất +0,6 đến +0,8m, nơi này chủ yếu là ruộng lúa. Vùng phía Nam khu vực quận 7, nằm dọc theo sông Nhà Bè tiếp xúc huyện Nhà Bè , đất tại đây thấp, cao độ khoảng +0,6 đến 1,2m. - Bờ Đông của sông Sài Gòn và sông Nhà Bè: Phía Bắc là vùng đất gò cao tiếp xúc quận Thủ Đức với cao độ mặt đất từ +2,0 đến +30,0m. Phía Nam hầu như là khu vực đất thấp tiếp xúc quận 2 và quận 9, cao độ mặt đất khoảng từ +0,6 đến +1,5m, được bảo vệ bằng hệ thống đê ngăn lũ.
Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp nghiên cứu lý thuyết về thoát nước và xử lý nước thải đô thị với việc điều tra phân tích, đánh giá hiện trạng xử lý nước thải của Thành phố Hồ Chí Minh qua các dự án xử lý nước thải quy mô lớn đã thực hiện như (Dự án Jica – Nhật; Dự án CDM – Mỹ; Dự án 415 – Bỉ). Từ đó nghiên cứu và đề xuất các giải pháp xử lý nước thải không tập trung phù hợp cho giai đoạn quá độ của Thành phố Hồ Chí Minh. Học viên: Nguyễn Hữu Nhơn Trang 16 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC LỚP CAO HỌC KỸ THUẬT HẠ TẦNG ĐT - K. TRẦN TUẤN HIỆP Phân tích các đặc điểm của phương án xử lý hệ thống thoát nước không tập trung, tách riêng các xí nghiệp, khu công nghiệp ra khỏi các khu vực dân cư (xem hình minh họa 1.
Đưa ra phương án đầu tư bằng vốn vay theo hình thức ODA của Nhật (70% vốn của chính phủ Nhật và 30% vốn đối ứng của Việt Nam), sẽ tiến hành cải tạo và xây mới hệ thống tiêu thoát nước nhằm giảm thiểu tình trạng úng ngập, đồng thời thu gom và xử lý nước thải. Phạm vi của dự án là tiêu thoát nước mưa và nước thải sinh hoạt cũng như xử lý nước thải của Thành phố. Sau quá trình xử lý thì nước thải sẽ đạt chất lượng nước của TCVN 5945:1995 (nước uống được) trước khi thải ra nguồn tiếp nhận và như vậy chất lượng môi trường sẽ cải thiện đáng kể.4: Hệ thống riêng hoàn toàn của các xí nghiệp công nghiệp 1. Mạng lưới nước thải sinh hoạt và sản xuất; 2.
Mạng lưới thoát nước sản xuất và nước mưa; 3. Giếng thu nước mưa; 4. Mạng lưới thoát nước sản xuất bẩn; 5. Cửa xả CHƯƠNG 2: Học viên: Nguyễn Hữu Nhơn Trang 17 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC LỚP CAO HỌC KỸ THUẬT HẠ TẦNG ĐT - K.
TRẦN TUẤN HIỆP THOÁT NƯỚC VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ 2. Khái niệm về thoát nước: Trong các cụm dân cư, các khu đô thị và khu công nghiệp thường xuyên gây ra nhiều nguồn nước ô nhiễm có đặc tính khác nhau do hoạt động hàng ngày của con người, bao gồm chất thải sinh lý của người và vật nuôi, các loại nước thải sinh hoạt (nước thải tắm giặt, nhà ăn, bếp ăn, nước thải rửa bát đĩa, rửa sân, rửa đường .), nước thải ra từ các nhà máy công nghiệp, từ các dây chuyền thiết bị công nghệ, ngoài ra còn nguồn nước thải tự nhiên như nước mưa sau khi rơi xuống đường. Như vậy, nước thải là nước đã sử dụng cho các nhu cầu khác nhau hay nước mưa có lẫn thêm chất bẩn, làm thay đổi tính chất sinh - hóa - lý so với nguồn nước ban đầu. Nước thải chứa nhiều chất hữu cơ dễ thối rửa, là môi trường tốt cho sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh.
Sự tích tụ nước thải trên mặt đất và trong lòng đất sẽ gây ô nhiễm cho môi trường, khí quyển xung quanh, tác hại đến nguồn nước mặt và nước ngầm, là nguyên nhân gây ra các dịch bệnh. Để đảm bảo vệ sinh môi trường cần phải thu dẫn một cách nhanh chóng lượng nước thải ra khỏi khu đô thị, cụm dân cư, khu công nghiệp và chuyển về nhà máy xử lý trước khi thoát ra sông rạch, kênh mương. Vậy thoát nước là một tổ hợp các thiết bị công trình kỹ thuật và các phương tiện để thu nước thải tại nơi hình thành, vận chuyển đến các công trình xử lý (làm sạch, khử trùng, xử lý kể cả việc tái sử dụng cặn và các chất chứa trong nước thải và cặn) và sau đó xả nước thải đã qua xử lý ra nguồn tiếp nhận. Có hai dạng thoát nước: thoát nước dạng chuyên chở định kỳ và thoát nước dạng dòng chảy tự chuyển.
Thoát nước dạng chuyên chở định kỳ là tập trung chất thải lỏng vào bồn chứa, vận chuyển định kỳ bằng ô tô hoặc xe hút đến nơi xử lý. Thoát nước dạng này không đảm bảo vệ sinh cho khu vực, nên ngày nay việc áp dụng việc thoát Học viên: Nguyễn Hữu Nhơn Trang 18 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC LỚP CAO HỌC KỸ THUẬT HẠ TẦNG ĐT - K. TRẦN TUẤN HIỆP nước dạng này rất hạn chế, chỉ áp dụng đối với các điểm dân cư nhỏ lẻ, riêng biệt. Thoát nước dạng dòng chảy tự chuyển là nước thải được tu gom qua các phiểu thu, hố ga.
sau đó theo đường ống cống ngầm đã lắp đặt trước tự chảy đến trạm xử lý, nước thải sau khi xử lý được xả ra nguồn tiếp nhận gần nhất. Ngoài ra còn có kiểu xả tràn, nước thải chảy tràn trên bề mặt đường phố, vỉa hè, ô đất. * Các bộ phận chính và sơ đồ thoát nước: Thoát nước bao gồm các bộ phận chủ yếu sau (xem hình 2.1): - Thiết bị vệ sinh thu nước thải và mạng lưới thoát nước trong nhà. - Mạng lưới thoát nước ngoài sân nhà hoặc tiểu khu.
- Mạng lưới thoát nước ngoài đường phố. - Các trạm bơm và ống dẫn có áp (có thể có). - Các công trình làm sạch và các cống xả nước thải đã làm sạch ra nguồn.1: Sơ đồ thoát nước khu đô thị và khu công nghiệp 1. Đường phân phân thủy; 2.
Cống thoát nước sân nhà; 3. Cống thoát tiểu khu; 4. Cống thoát nước đường phố; 5. Cống góp chính; 7.
Cống góp chính ngoại vi; 8. Trạm bơm chính; 9. Trạm xử lý nước thải; 10. Trạm bơm cục bộ; 13.
Xí nghiệp công nghiệp. Những đoạn mạng lưới để thu gom nước thải từ một hoặc vài lưu vực gọi Học viên: Nguyễn Hữu Nhơn Trang 19 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC LỚP CAO HỌC KỸ THUẬT HẠ TẦNG ĐT - K. TRẦN TUẤN HIỆP là cống góp. Người ta phân biệt các loại cống góp như sau: 1.
Cống góp lưu vực: thu gom nước thải từ các lưu vực riêng biệt. Cống góp chính: thu gom và vận chuyển nước thải từ 2 hay nhiều cống góp lưu vực. Cống góp chính Thành phố: dẫn nước thải Thành phố ra khỏi phạm vi thoát nước tới trạm bơm chính, trạm xử lý hoặc tới cửa xả ra nguồn tiếp nhận. Để kiểm tra, tẩy rửa nạo vét cặn lắng trên mạng lưới thoát nước người ta phải xây dựng các giếng thăm (hố ga).
Để thu nước mưa trên đường phố người ta phải xây dựng các giếng thu nước mưa. Có nhiều loại giếng thu nước mưa với cấu tạo khác nhau. Những cống thoát nước có thể chui qua sông, suối gọi là cống luồn (điuke) hoặc bắt trên cầu đường bộ, đường sắt gọi là cầu cạn … Các cống góp thoát nước thường đặt nơi địa hình thấp và phải nối với cống đường phố sao cho nước tự chảy được.