CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Công tác tạo động lực làm việc cho người lao động từ lâu đã là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu (Blackburn & Lawrence, 1995; Bernard Stoner, 1995; Akintoye, 2000; Francis Anyim, Christopher Chidi, Eskundayo Badejo, 2012; Bruce Pfau và Ira Kay, 2001). Có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực làm việc của con người được đưa ra như: Động lực là quá trình khơi dậy và duy trì hành vi để đạt được mục tiêu (Blackburn & Lawrence, 1995); Động lực làm việc được sử dụng để giải thích cho những hành động, nhu cầu, ham muốn của người lao động (Bruce Pfau và Ira Kay, 2001); Động lực là nỗ lực từ bên trong của con người để đạt được mục tiêu. Động lực tỷ lệ thuận với nhu cầu cá nhân.
Trong đó nhu cầu phải xuất phát từ nhận thức và bối cảnh thực tế (Francis Anyim, Christopher Chidi, Ekundayo Badejo, 2012) hay Động lực là nhân tố quyết định đến hiệu quả làm việc của người lao động xuất phát từ mong muốn của chính họ (Yasemin Oraman, 2011). Các nghiên cứu đề xuất nhiều mô hình về tạo động lực làm việc cho người lao động nhưng nhìn chung vẫn có điểm chung giữa các mô hình đó là phân chia các nhân tố tạo động lực thành 2 nhóm nhân tố chính là Tài chính và Phi tài chính. Nhóm nhân tố thuộc Tài chính như tiền lương, thưởng, ưu đãi và các khuyến khích đặc biệt trao cho các nhân viên xứng đáng. Nhóm nhân tố Phi tài chính như Văn hóa cơ quan, điều kiện làm việc, vị trí công việc, cơ hội thăng tiến, đồng nghiệp… Cụ thể, theo nghiên cứu của Blackburn & Lawrence (1995), các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất làm việc được chỉ ra bao gồm: Các biến nhân khẩu học - xã hội học (giới tính, tuổi tác); Các biến liên quan đến chuyên môn nghề nghiệp (trường đào tạo, thành tích đạt được, tuổi nghề, cấp bậc trong sự nghiệp); Môi trường làm việc (văn hóa tại nơi làm việc, vị trí địa lý, hệ thống khen thưởng, hệ thống đánh giá năng lực làm việc của khoa, viện đối với cá nhân); Các biến cố không thể kiểm soát (bao gồm các biến cố xảy ra với từng cá nhân như sinh con, vợ/chồng bị bệnh, các xung đột trong gia đình).
Nghiên cứu của Francis Anyim, 5 van Christopher Chidi, Ekundayo Badejo (2012) chỉ ra những nhân tố tác động đến động lực làm việc của người lao động tương đồng với nghiên cứu đã nêu trên. Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu này là lý thuyết về nhu cầu, thuyết về hai nhân tố Hezberg, thuyết về ba cấp bậc trong nhu cầu của Alderfer và thuyết tạo động lực của McClelland (Robbins, Miller, Cacioppe & Waters-Marsh, 2001). Nghiên cứu của Yasemin Oraman (2011) đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên ngành dệt may chia làm 2 loại: các công cụ doanh nghiệp tác động đến tài chính (tiền lương, thưởng, sự công bằng giữa lợi ích của việc đánh giá hiệu quả công việc,…) và các công cụ tác động đến đặc điểm người lao động (tôn trọng cuộc sống riêng tư của người lao động, môi trường làm việc ảnh hưởng đến thể chất và sức khỏe tinh thần của người lao động,…) Qua phân tích dữ liệu thu thập được, nghiên cứu của Bernard Stoner đã đưa ra các chiến lược nhằm tạo động lực thúc đẩy làm việc cho người lao động, cụ thể như sau: - Tiền lương: tiền vẫn là động lực chiến lược quan trọng nhất. Trở lại năm 1911, Frederick Taylor và nghiên cứu khoa học của ông mô tả tiền là nhân tố quan trọng nhất trong việc thúc đẩy các công nhân công nghiệp để đạt được năng suất cao hơn.
Taylor ủng hộ việc thiết lập hệ thống lương thưởng như một phương tiện kích thích người lao động với hiệu suất cao hơn, cam kết làm việc, và sự hài lòng trong công việc. Tiền sở hữu sức mạnh động cơ thúc đẩy đáng kể, nó tượng trưng cho mục tiêu vô hình như an ninh, năng lượng, uy tín, và một cảm giác thành công. Katz Sinclair (2005) chứng tỏ sức mạnh động lực của tiền thông qua quá trình lựa chọn công việc. Ông giải thích rằng tiền có sức mạnh để thu hút, duy trì và thúc đẩy cá nhân làm việc hiệu quả hơn.
- Đào tạo nhân viên: Một tổ chức có thể đạt được năng suất cao phụ thuộc vào mức độ hiệu quả lao động của các cán bộ. Đào tạo cán bộ là một chiến lược không thể thiếu cho động cơ thúc đẩy người lao động. Tổ chức phải có chương trình đào tạo tốt. Điều này sẽ cung cấp các cơ hội nghề nghiệp hoặc các thông tin về công việc để người lao động tự cải thiện và phát triển để đáp ứng những thách thức và yêu cầu về phát triển khoa học công nghệ.
6 van Bruce Pfau và Ira Kay (2001) cho rằng sự công bằng giữa lợi ích và tiền lương chính là vấn đề cốt lõi của những công ty thành công khi thuê và nhận được sự cam kết của người lao động. Nếu chỉ cung cấp một mức lương vừa đủ sống cho người lao động, đồng nghĩa với việc bạn phải tạo thêm động lực làm việc với những giá trị khác. Nếu không công bằng và giá trị nhân viên nhận được từ công việc, nguy cơ mất đi những nhân viên tốt nhất từ những nhà tuyển dụng khác trả mức lương cao hơn là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Do đó, để cuốn hút được những người lao động tốt nhất hiện nay, cần phải có một mức lương cao hơn mức lương trung bình của những công ty khác trên thị trường việc làm.
Tiền lương - hẳn sẽ là cách cung cấp cho họ động lực. Cũng theo Bruce Pfau và Ira Kay, mọi nhân viên đều mong muốn những thành tích cá nhân của họ được thừa nhận và được hưởng một giá trị tương xứng với thành tích đó. Mọi nhân viên đều không muốn bị sa thải; vì vậy, việc kỷ luật và cho thôi việc những người không có sự cống hiến cũng chính là một trong những động thái tạo ra động lực, tuy nhiên có một nghịch lý là không nhiều tổ chức có thể làm được điều này. Nếu xét việc trả lương thấp là nhân tố đầu tiên làm giảm động cơ làm việc, thì nhân tố này, có lẽ là điều quan trọng thứ hai, bởi lẽ, những nhân viên không có động lực làm việc sẽ là nhân tố làm giảm động lực làm việc của các nhân viên khác.Thêm vào đó, tác giả nhận thấy nhiều mối liên hệ thất bại trong việc kết nối nguyện vọng, nhu cầu (muốn cái gì) của người quản lý và nhân viên.
“Những người sử dụng lao động hiện nay đánh giá thấp tầm quan trọng của người lao động, bởi lẽ sự linh động về mặt thời gian hoặc cơ hội thăng tiến sẽ là những nhân tố để họ có thể đưa ra quyết định đi hay ở lại một công ty nào đó.” “Điều đó có nghĩa là nhiều công ty đang hoạt động một cách rất chăm chỉ (và sử dụng nguồn lực khan hiếm) cho những giải pháp sai” (Bruce Pfau, Ira Kay. 2001), mọi nhân viên đều mong muốn được chi trả nhiều hơn. Họ sẽ suy xét những quyết định công việc linh động thời gian. Họ muốn những chính kiến của mình được lưu giữ, cơ hội được học hỏi, và gia tăng giá trị của mình đằng sau những quyết định quản lý và chỉ đạo của cấp trên.
Một số nghiên cứu trong nước về tạo động lực thúc đẩy làm việc cho cán bộ công nhân viên và người lao động như nghiên cứu của Trương Minh Đức (2011) đã chỉ ra rằng đa số người lao động trong diện khảo sát đánh giá các nhân tố khách 7 van quan như điều kiện cơ sở vật chất làm việc của nhân viên, mối quan hệ đồng nghiệp, vị trí làm việc trong tổ chức đóng vai trò ảnh hưởng lớn nhất. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng nhân viên mong muốn an toàn trong công việc và áp lực trong công việc không quá cao, nhu cầu được thể hiện năng lực của bản thân, được chủ động trong công việc và có công việc phù hợp để phát huy chuyên môn, mong muốn có cơ hội thăng tiến để thể hiện năng lực của bản thân. Tuy nhiên nghiên cứu cũng đưa ra kết quả rằng các nhà quản lý tại công ty chưa phát huy tối đa năng lực và sự nhiệt tình của nhân viên Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hoàn (2010) chỉ ra rằng nhân tố “Sự gắn kết giữa các nhân viên, tinh thần làm việc tập thể” có ảnh hưởng lớn nhất đến tính tích cực trong việc cùng nhau giải quyết công việc, tiến hành những kế hoạch của ngân hàng. Nghiên cứu cũng kết luận được về cơ bản người lao động tại ngân hàng Á Châu chi nhánh Huế đồng tình với cơ chế, chính sách trả lương, thưởng và thu nhập tăng thêm như hiện nay.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác đã thực hiện trước đó với người lao động tại các đơn vị khác thì cho ra kết luận khác như nghiên cứu do tác giả Lê Văn Hảo (2005) tiến hành trên 335 cán bộ nghiên cứu của Viện KHXH Việt Nam và Viện KH&CN Việt Nam cho thấy: có tới 41,6% số người được hỏi cho rằng điều họ không hài lòng nhất đối với công việc hiện tại là “Thu nhập thấp”. Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Lan trên mẫu 50 người lao động của Tập đoàn Dệt May Việt Nam cũng có kết luận rằng người lao động chấp nhận mức lương hiện tại của mình nhưng chưa thực sự hài lòng với mức lương mà họ nhận được Các kết quả của các nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày ở trên cho thấy sự ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài (các thuận lợi hay khó khăn đến từ cơ chế quản lý, cơ sở vật chất), các nguyên nhân đến từ bên trong cá nhân (đặc điểm về nhân khẩu học) và các mối quan tâm, các ràng buộc bên ngoài xã hội cũng có nhiều ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động. Khái niệm “Động lực lao động” Đối với mỗi con người trước khi làm bất cứ một việc gì thường đặt ra những câu hỏi đại loại như: Tại sao phải làm việc đó? Làm việc đó để làm gì? Có lợi ích gì? Làm cho ai? Sau đó mới nghĩ đến làm như thế nào. Người lao động cũng vậy, 8 van trước khi chọn một doanh nghiệp nào đó để làm việc họ cũng phải tự đặt ra câu hỏi để trả lời.
Những câu hỏi đó phần lớn liên quan đến nhu cầu của con người. Những việc mình phải làm giúp ích và đáp ứng được nhu cầu của bản thân.