MỞ ĐẦU Khái niệm mạng thế hệ sau (hay mạng thế hệ mới/mạng thế hệ tiếp theo NGN - Next Generation Network) hiện không còn mới mẻ trên thế giới nhƣ một vài năm trƣớc đây. Phát triển và kinh doanh mạng thế hệ sau NGN đã và đang là vấn đề tất yếu và phức tạp trong ngành viễn thông vài năm gần đây. Xu hƣớng phát triển của viễn thông là tiến tới hội tụ về mạng, hội tụ về dịch vụ, ứng dụng. Không nằm ngoài xu thế đó, mạng viễn thông của Việt Nam cũng đang nằm trong một lộ trình tất yếu là chuyển dần sang mạng thế hệ sau NGN và tiến tới IP hóa (toàn IP, công nghệ IP đƣợc sử dụng để tích hợp tất cả các dịch vụ) để có thể tiến tới liên lạc đƣợc mọi lúc, mọi nơi và bằng mọi phƣơng tiện.
Bên cạnh đó, nhu cầu cũng ngày càng gia tăng đối với các dịch vụ truyền thông mới, đòi hỏi khả năng đáp ứng việc cung cấp dịch vụ hoặc tăng tính cạnh tranh. Việc bảo đảm chất lƣợng dịch vụ trở thành tiêu chí sống còn, là nguyên nhân dẫn tới thành công của các nhà cung cấp dịch vụ. Một mạng toàn IP không chỉ cung cấp các dịch vụ truyền thống trên Internet nhƣ thƣ điện tử, truy nhập các trang web mà còn cung cấp dịch vụ điện thoại cố định, điện thoại di động, truyền hình và các dịch vụ phân phối dữ liệu cảm biến và tất nhiên cũng gặp phải các vấn đề thƣờng gặp của Internet nhƣ virus, truy nhập nặc danh hay tấn công DoS/DDoS. Tài nguyên của mạng có giới hạn trong khi nhu cầu truyền thông tin ngày càng tăng.
Chính vì vậy, hiện tƣợng tắc nghẽn mạng là khó tránh khỏi. Việc quá tải hoặc tắc nghẽn của một dịch vụ có thể ảnh hƣởng đến các dịch vụ còn lại. Để giải quyết vấn đề này có hai cách đó là: Tăng tài nguyên của mạng (mở rộng nút mạng, tăng các tuyến truyền dẫn, tăng băng thông của mạng …) và điều khiển để chống tắc nghẽn mạng. Việc tăng tài nguyên mạng chi phí đầu tƣ lớn và không thể thƣờng xuyên đƣợc.
Trong khi đó, việc điều khiển chống tắc nghẽn mạng sử dụng các giao thức, các thuật toán để điều khiển chống tắc nghẽn mạng. Việc này chi phí đầu tƣ nhỏ, không ảnh hƣởng đến phần cứng của mạng đồng thời rất mềm dẻo, linh hoạt. Tuy nhiên, vấn đề điều khiển chông tắc nghẽn mạng rất phức tạp nhất là khi mạng ngày càng phát triển rộng lớn, dịch vụ gia tăng nhanh, các dịch vụ mới ngày càng nhiều, số lƣợng ngƣời sử dụng tăng lên nhanh chóng kèm theo vấn đề lƣu lƣợng tăng vọt và biến đổi động. Vì vậy, vấn đề điều khiển chống tắc nghẽn ngày càng trở nên cấp thiết.
Thực chất, vấn đề điều khiển chống tắc nghẽn đã đƣợc nghiên cứu từ khá lâu và đã có các chuẩn, các thuật toán và giao thức điều khiển chống tắc nghẽn đƣợc công bố. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Đề tài “Điều khiển chống tắc nghẽn trong mạng NGN toàn IP” tập trung nghiên cứu các vấn đề về mạng NGN toàn IP, các vấn đề về điều khiển tắc nghẽn và hệ thống các phƣơng pháp điều khiển chống tắc nghẽn cũng nhƣ khả năng ứng dụng của những phƣơng pháp này trong mạng NGN toàn IP. Nội dung của luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về điều khiển tắc nghẽn trong mạng NGN toàn IP Chƣơng 2: Nguyên lý điều khiển tắc nghẽn trong mạng NGN toàn IP. Chƣơng 3: Các phƣơng pháp điều khiển tắc nghẽn trong mạng NGN toàn IP.
Chƣơng 4: Phân tích các phƣơng pháp điều khiển tắc nghẽn và ứng dụng. Do kiến thức còn hạn hẹp nên nội dung luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và những ngƣời quan tâm đến lĩnh vực này. Em xin chân thành cảm ơn sự hƣớng dẫn tận tình của thầy giáo, PGS.Đinh Thế Cƣờng và các thầy cô trong khoa Điện tử viễn thông, Trƣờng Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012 Ngƣời thực hiện Bùi Thị Kim Hoa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TẮC NGHẼN TRONG MẠNG NGN TOÀN IP 1. Cơ sở kỹ thuật mạng IP Ngày nay giao thức IP đƣợc sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu cho kết nối mạng viễn thông. Sự tăng trƣởng theo cấp số nhân của thuê bao Internet đã là một thực tế không ai có thể phủ nhận. Thực tế, lƣợng dữ liệu lớn nhất trên các mạng đƣờng trục đều là từ IP.
Mạng sử dụng giao thức IP loại bỏ ranh giới giữa dịch vụ số liệu và thoại. Trƣớc đây chúng ta phải xây dựng các mạng riêng lẻ dựa trên các giao thức khác nhau. Do đó, khả năng kết nối giữa các hệ thống là rất khó khăn. Giao thức IP độc lập với lớp liên kết dữ liệu.
Điều này cho phép truyền gói tin IP giữa hai điểm mà giữa chúng là các liên kết lớp 2 bất kỳ. Việc truyền tin đƣợc thực hiện theo cơ chế phi kết nối. Gói tin IP chứa địa chỉ bên nhận là số duy nhất trong toàn mạng và mang đầy đủ thông tin cho việc chuyển gói tới đích. Dựa trên các bảng định tuyến, các gói tin IP đƣợc chuyển hƣớng tới đích.
Phƣơng thức chuyển tin truyền thống là theo từng chặng một. IP là một giao thức chuyển mạch gói có độ tin cậy và khả năng mở rộng cao nhƣng lại không hỗ trợ chất lƣợng dịch vụ. Mạng IP đƣợc xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn toàn cầu của IETF. Do đó, thiết bị của các nhà sản xuất khác nhau có thể dễ dàng tƣơng hoạt.
Hiện nay, nếu nói tới tiêu chuẩn truyền thông phổ biến nhất thì đó chính là giao thức IP. Bộ giao thức TCP/IP TCP/IP là bộ giao thức đƣợc phát triển bởi Cục các dự án nghiên cứu cấp cao (ARPA) của bộ quốc phòng Mỹ. Hiện nay, TCP/IP đƣợc sử dụng rất phổ biến trong mạng máy tính, mà điển hình là mạng Internet. TCP/IP đƣợc phát triển trƣớc mô hình OSI.
Do đó, các tầng trong TCP/IP không tƣơng ứng hoàn toàn với các tầng trong mô hình OSI. Chồng giao thức TCP/IP đƣợc chia thành bốn tầng: giao diện mạng (network interface), liên mạng (internet), giao vận (transport) và ứng dụng (application). Tầng ứng dụng: Tầng ứng dụng cung cấp các dịch vụ dƣới dạng các giao thức cho ứng dụng của ngƣời dùng. Một số giao thức tiêu biểu tại tầng này gồm: FTP (File Transfer Protocol), Telnet (TErminaL NETwork), HTTP (Hyper Text Transfer Protocol), SMTP (Simple Mail Transfer Protocol), POP3 (Post Office LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Protocol), DNS (Domain Name System); DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol), SNMP (Simple Network Managament Protocol).
Mô hình OSI Mô hình TCP/IP Tầng ứng dụng Tầng trình diễn Tầng ứng dụng Tầng phiên Tầng giao vận Tầng giao vận Tầng mạng Tầng liên mạng Tầng liên kết dữ liệu Tầng giao diện mạng Tầng vật lý Hình 1. Mô hình OSI và TCP/IP Tầng giao vận: Tầng giao vận chịu trách nhiệm chuyển phát toàn bộ thông báo từ tiến trình-tới-tiến trình. Tại tầng này có hai giao thức là TCP và UDP, mỗi giao thức cung cấp một loại dịch vụ giao vận: hƣớng kết nối và phi kết nối. Giao thức TCP (Transmission Control Protocol) là giao thức hƣớng kết nối, đầu cuối tới đầu cuối.
Giao thức TCP là giao thức lớp truyền tải đáng tin cậy, thực hiện chức năng nhận luồng dữ liệu từ chƣơng trình ứng dụng, chia luồng dữ liệu nhận đƣợc thành các gói nhỏ có thể quản lý, sau đó gắn mào đầu vào trƣớc mỗi gói. Phần mào đầu này có chứa địa chỉ cổng nguồn và cổng đích. Ngoài ra, nó còn chứa số trình tự để chúng ta biết gói này nằm ở vị trí nào trong luồng dữ liệu. Sau khi nhận đƣợc một số lƣợng gói nhất định, phía nhận TCP sẽ gửi báo nhận lại cho phía gửi.
Ƣu điểm của việc làm này là TCP có khả năng điều chỉnh việc gửi và nhận các gói tin. Giao thức UDP (User Datagram Protocol) là một giao thức truyền thông phi kết nối, đƣợc dùng thay thế cho TCP ở trên IP theo yêu cầu của ứng dụng. UDP không đảm bảo sự tin cậy, nó gửi gói tin vào tầng IP nhƣng không có sự đảm bảo rằng gói tin sẽ đến đƣợc đích của chúng. UDP có trách nhiệm truyền các thông báo từ tiến trình-tới-tiến trình, nhƣng không cung cấp các cơ chế giám sát và quản lý.
UDP cũng cung cấp cơ chế gán và quản lý các số cổng để định danh duy nhất cho các ứng dụng chay trên một trạm của mạng. Do ít chức năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 phức tạp nên UDP có xu thế hoạt động nhanh hơn so với TCP. Nó thƣờng đƣợc dùng cho các ứng dụng không đòi hỏi độ tin cậy cao trong giao vận. Tầng liên mạng: Tầng liên mạng trong chồng giao thức TCP/IP tƣơng ứng với tầng mạng trong mô hình OSI, cho phép kết nối nhiều mạng với các công nghệ khác nhau qua mạng lõi sử dụng giao thức IP.
Chức năng chính của tầng mạng là đánh địa chỉ lôgic và định tuyến gói tới đích. Giao thức đáng chú ý nhất ở tầng liên mạng chính là giao thức liên mạng (IP – Internet Protocol). Ngoài ra còn có một số giao thức khác nhƣ ICMP, ARP và RARP. Kết nối liên mạng sử dụng giao thức IP Tầng truy nhập mạng: Tầng truy nhập mạng đôi khi còn đƣợc gọi là giao diện mạng.
Nó cung cấp giao tiếp với mạng vật lý. Thông thƣờng tầng này bao gồm các driver thiết bị trong hệ thống vận hành và các card giao diện mạng tƣơng ứng trong máy tính. Chức năng của tầng này là điều khiển tất cả các thiết bị phần cứng, thực hiện giao tiếp vật lý với cáp hoặc với bất kỳ môi trƣờng nào đƣợc sử dụng cũng nhƣ là kiểm soát lỗi dữ liệu phân bố trên mạng vật lý. Tầng truy nhập mạng không định nghĩa một giao thức riêng nào cả mà hỗ trợ các giao thức chuẩn nhƣ Ethernet, Token Ring, X25, Frame Relay, ATM… 1.
Địa chỉ IP Một liên mạng đƣợc tạo nên từ sự kết hợp của các mạng vật lý kết nối với nhau qua các bộ định tuyến. Khi một trạm truyền thông với một trạm khác, gói dữ liệu có thể di chuyển từ mạng vật lý này đến mạng vật lý khác qua các bộ định tuyến. Tại tầng này, một trạm cần phải đƣợc định danh duy nhất và toàn cục. Hơn nữa, để định tuyến tối ƣu và hiệu quả, mỗi bộ định tuyến cũng cần phải đƣợc định danh duy nhất và toàn cục tại tầng này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.