Đặt vấn đề Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, các phương tiện dùng để vận chuyển hành khách đã có những thay đổi vượt bật về công nghệ, tính năng, độ an toàn và tốc độ khi di chuyển. Trong đó phải kể đến đó là tàu đệm từ trường, đây có thể nói là một trong những phương tiện vận chuyển nhanh nhất với tốc độ có thể đạt hàng trăm km/giờ với không ma sát và là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu, các công ty sản xuất cũng như các trường đại học cứu nghiên cứu hàng chục năm qua. Để tàu có thể được nâng lên và di chuyển trên đường ray thì hệ thống bao gồm nhiều bộ nam châm điện để tạo ra từ trường nâng tàu khỏi đường dẫn và cho phép tàu di chuyển trong từ trường. Một hệ thống tàu đệm từ trường bao gồm các thành phần chính như hệ thống đường dẫn, thân tàu, hệ thống nâng từ trường và hệ thống tạo dẫn hướng chuyển động.
Tàu đệm từ trường là đối tượng có tính phi tuyến cao, không ổn định và bị ảnh hưởng nhiều của nhiễu bên ngoài, vì thế để tạo ra một mô hình tàu đệm từ trường là một nghiên cứu thú vị và là đề tài được nhiều trường đại học nghiên cứu chế tạo và ứng dụng. Các công trình nghiên cứu liên quan 1. Các nguyên lý thiết kế của hệ thống tàu đệm từ trường Hiện nay trên thế giới có 3 công nghệ tàu đệm từ trường: - Công nghệ EMS (Electro Maglnetic Suspension) của Đức - Công nghệ EDS (Electro Dynamic Suspension) của Nhật - Công Nghệ Inductrak của Mỹ ̶ Hệ thống tàu đệm từ trường của người Đức (German Transrapid system): sử dụng công nghệ EMS Đây là hệ thống tàu đệm từ trường được nghiên cứu và phát triển từ năm 1969, tàu sử dụng công nghệ EMS, gồm các cuộn dây nam châm điện lắp dưới sườn, dọc theo chiều dài tàu. Phần tĩnh sắt từ lắp dọc theo đường dẫn.
Lực điện từ trên tàu tương tác với phần sắt từ trên đường dẫn tạo lực nâng tàu và giữ tàu cách đường dẫn khi vận chuyển và đứng yên. Hệ thống nâng dùng nguồn DC riêng và độc lập với hệ thống đẩy tàu. Trong khi di chuyển thì nguồn DC luôn được nạp điện bằng máy phát điện trên tàu. Hệ thống tạo chuyển động là hệ thống động cơ với phần stator được cắt và trải dài trên đường dẫn, phần rotor là tàu điện sẽ chuyển động trên đường dẫn và có thể tăng tốc Trang 1 GVHD: TS.Nguyễn Trọng Tài HVTH: Trịnh Ngọc Đức độ hoặc hãm lại.
Tốc độ tàu được điều chỉnh liên tục bằng các tần số xoay chiều khác nhau. Hệ thống đường dẫn tàu hệ EMS Hình 1. Mô hình tàu điện từ trường hệ EMS của người Đức, hệ thống tạo chuyển động là động cơ với stator được trải dài Hình 1. Hệ thống nâng và định hướng chuyển động Trang 2 GVHD: TS.Nguyễn Trọng Tài HVTH: Trịnh Ngọc Đức Hình 1.
Thế hệ tàu TRO8 của Đức TR08 là thế hệ tàu thứ 8 của Transrapid của Đức sau khi TR01 được nghiên cứu từ năm 1969. Tàu đệm từ trường ở Thượng Hải ̶ Hệ thống tàu Shinkansen của Nhật (ElectroDynamic Suspension) Khác với hệ thống tàu đệm người Đức, hệ thống tàu của người Nhật được thiết kế và chế tạo theo công nghệ EDS hệ thống tàu được nghiên cứu từ năm 1962 và thương mại hóa vào năm 1964, là hệ thống gồm các thanh và tấm kim loại bọc các cuộn dây quấn (Propulsion coil, Levitation and guidance coil) có tác dụng nâng, đẩy và định hướng di chuyển cho tàu trên đường dẫn. Các nam châm điện dọc theo đường dẫn tự sinh lực đẩy tàu theo đường dẫn. Các cuộn nam châm điện này tác dụng với các cuộn nam châm điện đặt dưới gầm tàu điện sẽ sinh lực nâng tàu 1 đến 10cm.
Trang 3 GVHD: TS.Nguyễn Trọng Tài HVTH: Trịnh Ngọc Đức Hình 1. Tàu đệm Linear Shinkansen MLX01 tại Aichi Expo 2005 Hình 1. Hệ thống đường dẫn EDS ở Yamanashi (Nhật Bản) ̶ Hệ thống tàu Inductrack của Mỹ [9] Hình 1. Hệ thống tàu inductrack của Mỹ So với hệ thống tàu EMS của Đức và EDS của Nhật thì hệ thống tàu Inductrack của Mỹ có chi phí thấp và thiết kế đơn giản hơn.
Để nâng và di chuyển tàu, hệ thống được thiết kế đặc biệt bằng cách sắp xếp các nam châm vĩnh cữu trên thân tàu theo kiểu Halback (Halbach arrays). Hệ thống đường dẫn tàu được thiết kế là những vòng ngắn Trang 4 GVHD: TS.Nguyễn Trọng Tài HVTH: Trịnh Ngọc Đức mạch tác dụng với từ trường của nam châm vĩnh cữu trên thân tàu làm tàu nâng lên và di chuyển. Hệ thống tàu Inductrack của Mỹ có thể nâng khoảng cách 2. Sơ đồ hệ thống nâng tàu và đẩy tàu inductrack của Mỹ Hình 1.
Mô hình thí nghiệm tàu đệm Inductrack của General Atomics in San Diego 1. Sơ lược các phương pháp điều khiển Một số phương pháp đã được sử dụng cho mô hình tàu đệm từ trường ̶ PID Control to Maglev Train System [1]: Trong bài báo các tác giả Hengkun Liu, Xiao Zhang, và Wensen Chang đã lần lượt sử dụng hai bộ điều khiển PID tuyến tính và PID phi tuyến để thực hiện điều khiển mô hình tàu đệm từ. Bộ điều khiển PID tuyến tính dễ dàng trong việc điều chỉnh sự ổn định của hệ thống bằng cách tăng các hệ số hồi tiếp về vị trí và đạo hàm của vị trí, tuy nhiên khi tăng quá sẽ dẫn đến hệ thống mất ổn định. Do đó, tác giả đã sử dụng thêm bộ điều khiển PID phi tuyến để tăng độ ổn định bền vững của hệ thống.
Trang 5 GVHD: TS.Nguyễn Trọng Tài HVTH: Trịnh Ngọc Đức Hình 1. Mô hình hệ thống nâng sử dụng bộ điều khiển PID Phương trình động lực học của hệ thống nâng: x y 2 i y f / m g k x u Ri (2k / x)i (2ki / x 2 ) x k 0 N 2 A / 4 Trong đó: x: khoảng cách giữa nam châm và đường dẫn y: vận tốc di chuyển f: tác động nhiễu của hệ thống g: là gia tốc trọng trường k, m, R là hệ số của nam châm, khối lượng, R là điện trở của cuộn dây u: là điện áp cấp vào cuộn dây Bộ điều khiển PID tuyến tính Hệ phương trình trạng thái mô tả hệ thống quanh điểm cân bằng (s0, i0) x y 2ki0 2ki0 y f / m x i mx03 mx02 Tại điểm cân bằng ∆f = 0, khi đó Trang 6 GVHD: TS.Nguyễn Trọng Tài HVTH: Trịnh Ngọc Đức x y 2ki0 2ki0 y 3 x 2 i mx0 mx 0 Các thông số của mô hình: k = 0.8 m/s2 và các biến trạng thái [x1, x2, v] = [ ∆x, d∆x/dt, ∆i], khi đó x1 0 1 x1 0 x x 2v (1.1) 2 3376 0 2 Luật điều khiển PID tuyến tính cho tín hiệu: v= kpx1+kdx2 (1.2) Thay phương trình (1.1) vào hệ phương trình (1.2) có phương trình đặc trưng của hệ thống: s 2 2kd s 2k p 3376 0 Kết quả thí nghiệm xác định được kp= 3367 và kd=40 Luật điều khiển cho bộ điều khiển PID phi tuyến: v k p x1a k d x2b a, b là các hệ số mũ. Kết quả từ bài báo là a = 1.45 Kết quả mô phỏng: Kết quả mô phỏng cho thấy bộ điều khiển PID phi tuyến cho kết quả tốt hơn với biên độ dao động nhỏ hơn (1mm) so với bộ điều khiển PID tuyến tính (8mm). Trang 7 GVHD: TS.Nguyễn Trọng Tài HVTH: Trịnh Ngọc Đức Hình 1.
Kết quả mô phỏng của bộ điều khiển PID tuyến tính và PID phi tuyến ̶ A nonlinear control method for the electromagnetic suspension system of the maglev train [2]: Đối tượng tàu đệm từ trường là đối tượng có tính phi tuyến cao và không ổn định. Kết quả mô phỏng khi sử dụng bộ điều khiển PID cho độ vọt lố về khoảng cách là 3mm và thời gian xác lập là 6s. Do đó, để giảm bớt hiện tượng này, các tác giả Junqi XU, Yuan ZHOU ở trung tâm Shanghai Maglev Transportation Engineering R&D Center, Shanghai 201204, China đã đề xuất giải thuật là bộ điều khiển phi tuyến. Bộ điều khiển phi tuyến được thực hiện trên một bộ nam châm của hệ thống nâng.
Thuật toán điều khiển được áp dụng vào mô hình thực nghiệm trên tàu ở Thượng Hải (Shanghai Urban Maglev Test Line (SUMTL)). Mô hình hệ thống nâng sử dụng bộ điều khiển phi tuyến Trang 8 GVHD: TS.Nguyễn Trọng Tài HVTH: Trịnh Ngọc Đức Phương trình động lực học của hệ thống: ms f mag mg f d u Ri 2 ki 2 kis s s2 2 f i k mag s 2 k 0 N A / 4 Trong đó, s: là khoảng cách nâng giữa nam châm và đường dẫn k: là hệ số của nam châm, phụ thuộc vào số vòng dây quấn N, hệ số từ thẩm µ0 R, i, u là điện trở, dòng điện và điện áp của bộ nam châm điện fmag là lực nâng của nam châm điện Các biến trạng thái x1 = s, x2 = dx1/dt, x3 = i Hệ phương trình trạng thái mô tả hệ thống: x2 x 1 2 x k x3 fd 2 g m x1 m Tuyến tính hóa hệ phương trình quanh điểm cân bằng s0 z1 0 1 z1 0 z 0 0 z 1 w 2 2 Với z1 = x1 – s0; z2 = x2, và w là ngõ vào của hệ thống tuyến tính s0: là vị trí tại điểm cân bằng k 1 2 fd w g i m x12 m Luật điều khiển cho hệ thống: w ( k 1 z1 k 2 z 2 ) và luật điều khiển cho dòng điện: mk1 z1 mk 2 z2 mg f d i x1 k Trang 9 GVHD: TS.