CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu chung về robot bầy đàn 1.1 Giới thiệu chung về robot bầy đàn Robot bầy đàn (swarm robot) là một cách tiếp cận mới nhằm mục đích phối hợp số lượng lớn robot. Điều này lấy cảm hứng từ việc quan sát xã hội côn trùng như kiến, mối, ong- đó là ví dụ cụ thể về cách một lượng lớn cá thể độc lập tương tác với nhau để tạo ra một hệ thống thông minh. Xã hội côn trùng được biết đến về việc hoàn thành các nhiệm vụ nằm ngoài khả năng của từng cá thể như: xây tổ, tìm kiếm thức ăn, tha mồi. Khả năng phối hợp như vậy vẫn nằm ngoài khả năng của các hệ thống muti robot hiện nay [1].
Robot bầy đàn gồm một tập hợp số lượng lớn các robot tự trị (Autonomous robot) có khả năng cảm nhận môi trường xung quanh, tính toán điều khiển và trao đổi thông tin thông qua mạng truyền thông [2]. Các robot độc lập sẽ có hạn chế về khả năng, không đạt hiệu quả nếu hoạt động một mình nhưng lại hiệu quả khi phối hợp với nhau để thực hiện nhiệm vụ. Hoạt động tương tác là đặc trưng của robot bầy đàn, giúp robot bầy đàn thu được kết quả nhanh và đáng tin cậy hơn một robot riêng lẻ. Hệ thống robot bầy đàn có thể đồng nhất, gồm các robot hoàn toàn giống nhau; hoặc không đồng nhất, gồm nhiều loại robot có thiết kế và tính năng khác nhau.
Nhưng đều có chung những đặc điểm như sau [3]: - Tính bền vững: Yêu cầu hệ thống có khả năng tiếp tục làm việc với hiệu suất thấp, lỗi từ các cá thể robot, nhiễu từ môi trường. Điều này có được từ các yếu tố như sau: đầu tiên là khả năng dự phòng của hệ thống: bất kì cá thể nào mất tín hiệu thì sẽ được thay thế bằng cá thể khác. Thứ hai, sự phối hợp không tập trung: phá hủy một phần của hệ thống cũng ảnh hưởng đến việc vận hành của bầy robot. Thứ ba, các cá thể robot đơn giản.
Nếu so sánh một hệ thống đơn phức tạp cũng làm một việc thì hệ thống bầy đàn gồm các cá thể robot sẽ đơn giản hơn và ít lỗi hơn. Cuối cùng, là sự đa 1 dạng về tín hiệu: Nhiều robot thì sẽ có nhiều tín hiệu trả về, giảm tỉ lệ tín hiệu đàu vào và nhiễu. - Tính linh hoạt : Yêu cầu của hệ thống robot bầy đàn thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Ví dụ về loại kiến, ba nhiệm vụ của bầy kiến thường là: tìm kiếm thức ăn, tha mồi, hình thành chuỗi.
- Khả năng mở rộng: yêu cầu hệ thống có thể hoạt động ở một quy mô lớn. Đây là cơ chế phối hợp để đảm bảo hoạt động của bầy ít bị xáo trộn nhất khi thay đổi quy mô nhóm. Tiêu chí để phân biệt nghiên cứu robot bầy đàn so với các nghiên cứu robot khác [1]: - Robot tự hành Mỗi cá thể robot trong hệ thống robot bầy đàn là một robot tự động, nó có một cơ cấu vật lí rõ ràng, được định vị và tương tác được với môi trường và các robot khác nhờ hệ thống cảm biến. Những hệ thống robot thay đổi hình dạng có thể coi là hệ thống robot bầy đàn khi và chỉ khi không tồn tại trung tâm điều khiển (bộ xử lý trung tâm).
- Số lượng robot lớn Những nghiên cứu về robot bầy đàn có thể được áp dụng để điều khiển một số lượng robot nhất định, không có mục đích mở rộng và nằm ngoài bầy robot. Mặt dù giới hạn dưới cho số lượng robot rất khó xác định, hầu hết được chấp nhận là từ 10- 20 robot. Tuy nhiên, chi phí cho mỗi robot đã giảm nhưng với một số lượng robot lớn thì chi phí bảo trì và thử nghiệm. Do đó hướng nghiên cứu về mảng này thực hiện với quy mô nhỏ nhưng có khả năng mở rộng về quy mô.
- Giới hạn về khả năng của robot Những robot được sử dụng để nghiên cứu thì thường sẽ không có khả năng hoặc hiệu quả thấp khi thực hiện nhiệm vụ độc lập. Đầu tiên, các robot gặp khó khăn khi 2 tự thực hiện nhiệm vụ và cần sự hợp tác của các cá thể. Tiếp theo, việc triển khai một nhóm có thể cải thiện hiệu suất làm việc. Điều quan trọng là tiêu chí này không áp đặt bất kì hạn chế nào đến độ phức tạp của phần cứng và phần mềm robot.
Không nên đánh giá khả năng và hiệu suất của từng robot đơn lẻ, chúng ta nên nhìn nhận tương ứng với nhiệm vụ để đánh giá sự đơn giản của robot. - Khả năng cảm nhận và giao tiếp Các robot được sử dụng trong nghiên cứu nên giới hạn về khả năng cảm biến và giao tiếp. Ràng buộc này nhằm đảm bảo sự phối hợp giữa các robot luôn tồn tại. Trên thực tế, việc sử dụng các kênh liên lạc toàn cầu trong nhóm robot có khả năng làm xuất hiện các cơ chế phối hợp không điều chỉnh được, do đó nó sẽ trái với tiêu chí đầu tiên được đề cập ở trên.
Tuy nhiên, mạng toàn cầu có thể cung cấp một chương trình chung chó các robot bầy đàn. Việc sản xuất hàng loạt robot là điều cần thiết để triển khai các hệ thống robot bầy đàn trong ứng dụng xã hội. Những tiến bộ trong ngành công nghiệp cơ điện tử đã giúp giảm kích thước và chi phí của robot tự động. Từ đó, tiềm năng để ứng dụng SW trong các nhiệm vụ như [1]: - Nhiệm vụ về giám sát không gian Hệ thống robot bầy đàn là một hệ thống phân tán, vì vậy nó sẽ phù hợp với các nhiệm vụ liên quan đến giám sát không gian.
Khả năng cảm biến phân tán của hệ thống giúp thu thập thông tin và phát hiện nhanh các tình huống nguy hiểm, chẳng hạn như rò rỉ hóa chất. Hệ thống robot bầy đàn sẽ có hai ưu điểm để giải quyết vấn đề tương tự. Đầu tiên, hệ thống có khả năng tập trung các thành viên trong bầy hướng đến nơi xảy ra sự cố. Khả năng này giúp hệ thống định vị và xác định vấn đề trong môi trường tốt hơn.
Thứ hai, hệ thống có thể tập trung để chặn đường rò rỉ. - Nhiệm vụ mang tính nguy hiểm cao 3 Các cá thể robot là thành phần không thể thiếu để tạo nên một hệ thống phù hợp cho các tác vụ nguy hiểm. Ví dụ: dọn vệ sinh trong các hầm mỏ với chi phí thấp. Không giống như robot đơn lẻ cũng thực hiện một nhiệm vụ, các robot bầy đàn có khả năng hoàn thành nhiệm vụ khi một hay nhiều cá thể gặp sự cố.
Việc sử dụng robot bầy đàn để kiểm tra một dãy hành lang sẽ an toàn hơn việc chỉ sử dụng một robot [1]. - Khả năng mở rộng và thu hồi Hệ thống robot bầy đàn có khả năng mở rộng hoặc thu nhỏ quy mô khi đang thực hiện nhiệm vụ. Ví dụ, quy mô của một vụ tràn dầu có thể tăng lên khi số lượng các thùng dầu bị hỏng. Một hệ thống robot bầy đàn có thể tự động tăng thêm số lượng robot để đảm bảo lưu trữ đủ lượng dầu tràn [1].
- Nhiệm vụ yêu cầu dự phòng Độ ổn định của hệ robot bầy đàn có thể đến từ sự dư thừa tài nguyên ( dư thừa robot) trong bầy. Sự dư thừa này cho phép hệ thống có thể phân tán một cách an toàn, gây ít hỏng hóc cho hệ thống [1].2 Hướng nghiên cứu về robot bầy đàn Kỹ thuật bầy đàn (swarm engineering) là ứng dụng có hệ thống kiến thức khoa học và kỹ thuật để mô hình hóa và xác định các yêu cầu, thiết kế, hiện thực hóa, xác minh, xác nhận, vận hành và duy trì hệ thống trí tuệ bầy đàn. Việc nghiên cứu về robot bầy đàn hiện nay thường chia làm hai loại. Đầu tiên, phân tích các phương pháp thiết kế và phân tích hệ thống robot bầy đàn.
Thứ hai, phân tích một số hành vi tập thể có thể có mà hệ thống robot bầy đàn. Khi nói đến hành vi tập thể, chúng tôi muốn nói đến hành vi của cả bầy tổng thể. Những hành vi tập thể như vậy có thể được sử dụng thực hiện các nhiệm vụ , chẳng hạn như tìm kiếm thức ăn hoặc xây dựng. Đối với luận văn, tôi tập trung vào nghiên cứu hành vi của robot nên tôi sẽ tập trung nói về các hành vi tập thể của bầy đàn có thể kết hợp để thực hiện các nhiệm 4 vụ phức tạp, ví dụ như tìm kiếm thức ăn hay xây dựng.
Hành vi thập thể của robot được chia thành bốn loại chính: hành vi tổ chức không gian, hành vi điều hướng, ra quyết định tập thể và các hành vi tập thể khác [4]. Ở loại đầu tiên, hành vi tổ chức không gian, chúng ta xem xét dựa vào cách tổ chức và phân bố robot và vật cảntrong không gian. Ở loại thứ hai , hành vi điều hướng, chúng ta xem xét các hành vi tập trung vào cách tổ chức và phối hợp chuyển động của một đàn robot. Ở loại thứ ba, ra quyết định tập thể, chúng tôi xem xét vào việc để một nhóm robot thống nhất về một quyết định chung hoặc phân phối các nhiệm vụ song song khác nhau.
Trong loại cuối cùng, các hành vi tập thể khác, chúng tôi xem xét những hành vi không thuộc bất kỳ loại nào được đề cập ở trên.1 Hành vi tổ chức không gian Phần này sẽ mô tả các hành vi tập thể, những hành vi tập trung vào cách tổ chức và phân phối robot và vật cản trong không gian. Robot có thể được tổ chức và phân phối trong không gian theo nhiều cách: tập hợp, mô hình, chuỗi và liên kết vật lí giữa robot. - Hành vi tập trung Mục tiêu của việc tổng hợp là nhóm tất cả các robot của một bầy đàn trong một khu vực của môi trường. Mặc dù chỉ là một hành vi tập thể đơn giản, nhưng việc tập hợp lại là một khối xây dựng rất hữu ích vì nó cho phép một đàn robot đến đủ gần nhau để chúng có thể tương tác.
Một số nghiên cứu : Garnier và cộng sự (2005) [5], đã phát triển một hệ thống trong đó robot được sử dụng để tái tạo hành vi được quan sát thấy ở gián. Các robot có thể tập hợp lại trong một đấu trường hình tròn bằng cách sử dụng phương pháp PFSM (probabilistic finite state machines). Phương pháp tiến hóa nhân tạo ( artificial evolution) đã được phát triển bởi Trianni et al. Các tác giả đã thu được hai bộ tham số cho một mạng lưới thần kinh đạt được cả tập hợp chuyển động và tĩnh.