Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về công nghệ và thiết bị chữa cháy rừng 1. Công nghệ và thiết bị chữa cháy rừng trên thế giới a) Công nghệ chữa cháy rừng trên thế giới: Cháy rừng là một trong những thảm họa, gây thiệt hại đến nhiều mặt, trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Cháy rừng không chỉ thiệt hại về cây rừng hay hệ sinh thái rừng, mà còn mất đi cái nôi trú ngụ của nhiều loài động vật, làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và nhất là làm mất đi kho tàng vi sinh vật quí giá trong đất.
Vì vậy, chữa cháy rừng là một việc làm thiết thực, là nghĩa vụ của mọi người, nhằm góp phần hạn chế tối đa những thiệt hại do cháy rừng gây ra, để bảo vệ màu xanh cho núi rừng. Nhưng chữa cháy rừng không giống như chữa cháy nhà, các điều kiện hỗ trợ thực hiện biện pháp chữa cháy rừng cũng rất hạn chế, rất khó khăn và địa hình phức tạp… Đòi hỏi con người cần hiểu một số kỹ thuật chữa cháy rừng, để tổ chức chữa cháy đạt hiệu quả và an toàn. Hiện nay các nước trên thế giới đang sử dụng công nghệ chữa cháy rừng như sau: Kỹ thuật chữa cháy rừng bằng phương pháp trực tiếp: là phương pháp bố trí đội hình chữa cháy trực tiếp đối đầu, bao vây ngọn lửa và dùng dụng cụ đập lửa liên tục. Chỉ được sử dụng khi đám cháy có ngọn lửa thấp, cường độ cháy nhỏ.
Chữa cháy rừng bằng phương pháp song song: là phương pháp bố trí đội hình chữa cháy đứng về phía trước (đầu hướng gió) để thực hiện biện pháp phát dọn băng trắng ngăn cản lửa. Sử dụng trong điều kiện khi đám cháy có ngọn lửa cháy với cường độ vừa phải. Chữa cháy rừng bằng phương pháp gián tiếp (hay phương pháp đốt chặn): là phương pháp dùng lửa đốt ngay từ phía trước đầu hướng gió của đám cháy để hai ngọn lửa tiến giáp lại với nhau tự tắt (do cháy hết vật liệu cháy). Sử dụng phương pháp này khi đám cháy có cường độ dữ dội, sức nóng lan tỏa trên phạm vi rộng, con người khó tiếp cận với đám cháy.
[37] c 3 b) Thiết bị chữa cháy trên thế giới: Một số nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Nga, Mỹ, Inđônêxia… sử dụng rộng rãi công cụ dập lửa thủ công (thiết bị chữa cháy cầm tay), bình chữa cháy đeo vai/xách tay, máy thổi gió đeo vai/ xách tay. Các công cụ này có nhiều hạn chế là năng suất và hiệu quả chữa cháy thấp, tốn nhiều sức lực và nhân công, không dập tắt được những đám cháy lớn (chiều cao ngọn lửa trên 2m). Ở những nơi gần nguồn nước (sông suối, ao hồ), nhiều nước trên thế giới đang sử dụng máy bơm nước để chữa cháy rừng. Thiết bị này có ưu điểm là hiệu quả dập lửa lớn, chữa được loại cháy trên tán cây.
Nhược điểm của loại thiết bị này là tính di động không cao, phụ thuộc vào nguồn nước; đối với khu rừng cách xa nguồn nước khoảng 3km thì thiết bị này không sử dụng được. Loại máy này phù hợp với chữa cháy ở rừng ngập nước. Một số nước phát triển như Mỹ, Nga, Australia, Island, Thái Lan đã nghiên cứu và đưa vào sử dụng xe chữa cháy rừng chuyên dùng (hình 1.3), thiết bị này có thể di chuyển được trên địa hình có độ dốc 150. Trên xe có Hình 1.1 - Ô tô chuyên dụng chữa cháy rừng của Mỹ thiết kế téc chứa nước, hệ thống bơm và ống dẫn.
Thiết bị này len lỏi vào trong khu rừng để chữa cháy, tác nhân chữa cháy rừng là nước. Thiết bị này còn nhược điểm là phụ thuộc vào nguồn nước chứa ở trong xe. Đối với những nơi xa nguồn nước, địa hình có độ dốc > 20 0 thì thiết bị này sử dụng không hiệu quả.2 - Xe cứu hỏa của Mỹ Hình 1.3 - Xe chữa cháy rừng của Australia Một số nước phát triển như Mỹ, Nga, Pháp, Nhật, Thái Lan đã sử dụng máy bay để chữa cháy. Loại thiết bị này có thể phun nước hoặc phun hoá chất để dập lửa.
Thiết bị chữa cháy này được sử dụng ở mọi loại địa hình, hiệu quả chữa cháy cao, năng suất dập lửa lớn. Sử dụng máy bay chữa cháy cần vốn đầu tư lớn, chi phí rất đắt, nên không phù hợp với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Công nghệ và thiết bị chữa cháy rừng ở Việt Nam Việt Nam mới chỉ cảnh báo được tình trạng mức nguy hiểm cháy rừng. Với những vụ cháy rừng lớn, gần các đường giao thông, mới có lực lượng cứu hỏa và thiết bị chuyên dùng; còn cháy rừng tại những nơi hiểm trở chủ yếu sử dụng phương pháp cổ truyền (dùng cành cây đập vào lửa, vận chuyển nước bằng cách chuyền tay nhau.
Có thể khẳng định rằng: Ở Việt Nam hiện nay chưa có thiết bị chữa cháy rừng chuyên dùng. Hiện nay, Việt Nam đang sử dụng một số công nghệ và thiết bị chữa cháy rừng như sau: - Công nghệ chữa cháy rừng sử dụng phương tiện chữa cháy thô sơ: Các phương tiện chữa cháy thô sơ bao gồm phương tiện chữa cháy rừng thủ công: dùng cành cây, vỉ dập lửa, cào cuốc… xe đạp thồ chở nước Hình 1.4 - Xe thồ chữa cháy rừng chữa cháy rừng (hình 1. Đây là công nghệ đơn giản, thiết bị rẻ tiền, dễ di chuyển ở nơi có địa hình phức tạp. Đối với c 5 những đám cháy nhỏ, mới bắt đầu cháy thì dụng cụ này có khả năng dập tắt được; nhưng tốn nhiều công lao động, năng suất và khả năng dập lửa thấp, không chữa được đám cháy lớn.
- Một số cơ sở chữa cháy rừng đang sử dụng bình bơm nước đeo vai, máy thổi gió công suất lớn, máy bơm nước khiêng tay để chữa cháy. Hiệu quả chữa cháy của các thiết bị này cao hơn các phương tiện chữa cháy thủ công, nhưng không hiệu quả đối với đám cháy rừng lớn. Các thiết bị này chủ yếu vẫn là nhập ngoại. - Thiết bị tạo băng cách ly: Trong chữa cháy rừng, phương pháp tạo băng trắng để khoanh vùng, cô lập đám cháy cũng thường xuyên được áp dụng đối với những đám cháy rừng lớn, cháy trên tán cây, cháy ngầm dưới mặt đất.
Các thiết bị tạo băng trắng hiện nay ở Việt Nam chủ yếu là dùng cưa xăng, máy phát quang, cào cuốc,. - Gần đây, Việt Nam đã phát minh và đưa vào sử dụng hỗn hợp chữa cháy đa năng ĐT-HP: Hỗn hợp chữa cháy đa năng ĐT-HP được sản xuất ở dạng dung dịch 5% của hỗn hợp hai muối Natriclorua và Natri Laurylsulfat. Khi sử dụng chỉ việc pha thêm nước để thành dung dịch nồng độ 0,5% phun thấm ướt hoặc phun tạo bọt trên bề mặt vật cháy, đám cháy sẽ bị dập tắt ngay. Hỗn hợp rất thích hợp để chữa cháy rừng vì giải quyết được tình trạng thiếu nước khi chữa cháy và dập tắt nhanh đám cháy mà không bị bùng cháy trở lại.
- Sử dụng công trình phục vụ phòng chống cháy rừng: kênh nước, kênh cạn, băng trắng, băng xanh, hồ chứa nước giữ ẩm đất rừng… - Xe chuyên dụng chữa cháy: Mặc dù đã có khá nhiều loại xe chữa cháy trên thị trường đã được đưa vào thử nghiệm hay sử dụng như: xe thang chữa cháy do Mỹ sản xuất, xe chữa cháy công nghệ phun bọt khí nén (CAFS) do hãng Morita (Nhật Bản) sản xuất, xe chữa cháy Dol với nhiều thế hệ khác nhau đã xuất hiện tại Việt Nam. Các loại xe chữa cháy này chủ yếu là xe nhập khẩu giá thành rất cao. Nhìn chung, chúng ta chưa sản xuất ra được các loại xe hay các phương tiện phục vụ công tác chữa cháy. Gần đây nhất, kĩ sư Trần Thành Đạt và cử nhân Huỳnh Hữu Phước đã chế tạo xe chữa cháy tí hon SAMCO Tina-m để chữa cháy trong các hẻm và các ngõ ngách nhỏ ở khu dân cư.
[35] c 6 Thực tế cho thấy, ở Việt Nam chưa có xe chuyên dụng chữa cháy rừng. Các loại xe chữa cháy kể trên được sử dụng trong chữa cháy nhà, không thuận lợi cho công việc chữa cháy rừng. Chúng ta chỉ cải tiến xe chữa cháy từ xe U oát hay xe Isuzu…thiết bị này bao gồm hệ thống téc nước, bơm nước đặt trên thùng xe. Những xe được cải tiến như vậy với số lượng rất ít, không đáp ứng được nhu cầu về thiết bị chữa cháy rừng ở nước ta.
Vì thế chúng ta cần các dụng cụ, thiết bị chữa cháy rừng hiện đại, gọn nhẹ để tiện di chuyển, hiệu suất cao, có thể sản xuất trong nước để giảm chi phí sản xuất. Trong đề tài cấp nhà nước KC 07.Dương Văn Tài đã thiết kế chế tạo thành công xe chữa cháy rừng đa năng, sử dụng nhiều tác nhân chữa cháy. Xe chữa cháy rừng đa năng mới được thiết kế chế tạo nên chưa có điều kiện nghiên cứu về khả năng kéo, bám, ổn định, dao động của xe. Tổng quan về dao động của ô tô máy kéo Khi ô tô, máy kéo chuyển động trên đường không bằng phẳng thường chịu những tải trọng dao động do bề mặt đường mấp mô sinh ra.
Những dao động này ảnh hưởng xấu đến hàng hóa, tuổi thọ của xe và người ngồi trên xe. Theo thống kê cho thấy, khi ô tô tải chạy trên đường xấu ghồ ghề, so với ô tô cùng loại chạy trên đường tốt bằng phẳng thì vận tốc trung bình giảm 40 - 50%. Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của dao động ô tô tới cơ thể con người đều đi tới kết luận là nếu con người phải chịu đựng lâu trong môi trường dao động của ô tô sẽ mắc các bệnh về thần kinh và não. Vì vậy tính êm dịu chuyển động là một trong những chỉ tiêu quan trọng của xe.
[1] Những vấn đề nêu trên cho thấy, nghiên cứu dao động ô tô không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất cao. Một số công trình nghên cứu dao động của ô tô, máy kéo trên thế giới có thể kể ra như sau: 1. Các công trình nghiên cứu dao động của ô tô máy kéo trên thế giới Việc nghiên cứu dao động ô tô - máy kéo bắt đầu rất sớm, ngay cả khi chúng còn rất đơn giản. Một trong những tác giả với nhiều đóng góp có thể kể đến là c 7 Mitschke, Schiehlen.
Năm 1970 Mitschke đã tập trung vào tác phẩm nổi tiếng "Dynamik der Kraftfahrzeuge" tập hợp tất cả các công trình nghiên cứu trước đó, bao gồm 200 trích dẫn. Nội dung chính là dao động xe con, mô hình là mô hình 1/4 và được xem xét ở các yếu tố kết cấu có ảnh hưởng đến dao động và tối ưu hệ treo.