LỜI MỞ ĐẦU Lý do lựa chọn luận án Khí quyển trái đất ảnh hưởng nhiều đến truyền sóng vô tuyến, các ảnh hưởng này rất khác nhau tùy theo tính chất phân vùng của khí quyển. Ảnh hưởng nhiều nhất của khí quyển đó là hiện tượng khúc xạ và phản xạ. Khúc xạ có thể xảy ra ở tầng đối lưu và tầng điện li. Khúc xạ tầng đối lưu xảy ra do tính không đồng nhất của tầng đối lưu, chỉ số khúc xạ khí quyển (hay chiết suất) n thường giảm theo độ cao là nguyên nhân làm thay đổi quỹ đạo của tia sóng.
Thậm chí tia sóng còn có thể bị uốn cong trở về mặt đất và phản xạ trên mặt đất (siêu khúc xạ). Trong khi đó hiện tượng khúc xạ tầng điện li xảy ra do sở hữu nhiều điện từ tự do và các thành tố ion tạo ra bởi quá trình ion hóa khí quyển. Sự thay đổi của mật độ điện tích ne là nguyên nhân gây ra hiện tượng khúc xạ. Phản xạ ở tầng điện li cũng có thể xảy ra với góc tới và tần số thích hợp (dưới 40 MHz).
Bầu khí quyển đối lưu còn gây ra suy giảm tín hiệu vô tuyến do sự hấp thụ của các phân tử không khí, phân tử nước và lượng mưa (mưa). Theo định luật Snell, sóng vô tuyến đi qua tầng đối lưu khí quyển bị bẻ cong do sự thay đổi chỉ số khúc xạ (chiết suất) n trong môi trường truyền sóng. Lý thuyết về hướng nghiên cứu này được phát triển từ lâu, tiêu biểu là các công trình [16] [87] [100]. Hệ số bán kính trái đất hiệu dụng k (còn gọi là k-factor) cho biết trạng thái khúc xạ của khí quyển ảnh hưởng đến hướng truyền của tia sóng.
Do vậy hệ số k là tham số chính để dự đoán điều kiện truyền sóng trong khí quyển. Bởi vì hệ số k phụ thuộc chủ yếu vào biến thiên chỉ số khúc xạ theo phương thẳng đứng mà không phụ thuộc vào giá trị tuyệt đối của chỉ số khúc xạ [3] [29], kết quả là sự thay đổi chỉ số khúc xạ n theo độ cao làm cho tia sóng bị uốn cong khi truyền qua các lớp khác nhau trong khí quyển. Hiệu suất của tuyến thông tin phần lớn phụ thuộc vào môi trường truyền dẫn giữa phía phát và phía thu. Không giống như truyền dẫn hữu tuyến thì kênh 1 truyền là cố định và có thể dự đoán được, còn truyền sóng vô truyến trong khí quyển thì lại khác do phụ thuộc vào các đặc tính vật lý của khí quyển là áp suất, nhiệt độ, độ ẩm và các hạt lơ lửng [57].
Sự toàn vẹn của thông tin nhận được ở máy thu phụ thuộc vào mức độ biến dạng của tín hiệu trong môi trường, do nhiễu trong quá trình truyền tín hiệu vô tuyến bởi sự thay đổi của thời tiết cũng như các yếu tố môi trường [59]. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ hoặc cách thức biến đổi của chỉ số khúc xạ theo độ cao có ảnh hưởng rõ rệt đến sóng vô tuyến ở dải tần VHF, UHF và sóng vi ba [3]. Các kết quả tổng hợp cho thấy sự thay đổi khúc xạ ảnh hướng đáng kể đến cường độ tín hiệu thu được ở tần số UHF, chỉ số khúc xạ có tính quy luật theo mùa, thay đổi theo ngày và đêm, theo vùng miền [84]. Theo dõi sự thay đổi theo mùa và theo ngày (ẩm ướt) cho thấy có tương quan với sự thay đổi cường độ tín hiệu VHF và UHF.
Điều kiện truyền sóng xấu được thấy vào buổi chiều, khi có mức tín hiệu thấp nhận được tại phía thu đặc biệt từ các trạm ở xa, khả năng xảy ra nhiễu giữa các trạm và các trạm ở xa truyền cùng tần số sẽ bị giảm đi rất nhiều liên quan đến độ khúc xạ thấp nhất ghi nhận trong khoảng thời gian này [107]. Nghiên cứu ở [1] cho thấy chỉ số khúc xạ là yếu tố quan trọng dự đoán hoạt động của tuyến thông tin vô tuyến, cấu trúc chiết suất của tầng đối lưu là nguyên nhân gây ra nhiều cơ chế phức tạp như hiệu ứng đa đường, hấp thụ, tán xạ tín hiệu vô tuyến v. làm ảnh hưởng đến độ chính xác của việc theo dõi các nguồn tín hiệu sóng vô tuyến (chẳng hạn từ các ngôi sao) bằng kính viễn vọng vô tuyến, hệ thống ra-đa, theo dõi vệ tinh (như vệ tinh GPS), phạm vi dẫn đường máy bay, tên lửa, v. Hiểu được tác động của khí quyển sẽ giúp cải thiện chất lượng, nâng cao hiệu suất tuyến thông tin vô tuyến và giảm thiểu được ảnh hưởng trên.
Do giá trị của chỉ số khúc xạ n là số rất gần và lớn hơn một đơn vị chỉ số khúc xạ (n-units), cho nên trong thực tế chỉ số khúc xạ thường hay được sử dụng thông qua độ khúc xạ (chỉ số chiết suất) N. Độ khúc xạ N là tham số cơ bản của khí quyển, có giá trị thay đổi theo thời gian, theo độ cao và phụ thuộc vào nhiệt 2 độ, độ ẩm và áp suất [73]. Đã có nhiều phương pháp khác nhau được phát triển để tính toán các thông số cơ bản của khí quyển là nhiệt độ, áp suất và độ ẩm theo chỉ số chiết suất và ngược lại [45] [48]. Biến đổi chậm của chỉ số khúc xạ liên quan đến các quá trình có quy mô vừa và trong ngày, biến đổi nhanh do ảnh hưởng của chuyển động hỗn loạn (turbulent motion) trong khí quyển.
Sóng vô tuyến truyền trong khí quyển tầng đối lưu, xác định biến đổi pha và góc sóng tới là các bài toán cần giải quyết khi thiết kế hệ thống thiết bị thu và nghiên cứu sóng lan truyền. Hiệu quả của các hệ thống dẫn đường, ra-đa và thông tin liên lạc phần lớn phụ thuộc vào điều kiện lan truyền của sóng vô tuyến được xác định bởi trạng thái khúc xạ khí quyển. Đó là sự phân bố theo không gian của độ khúc xạ N. Do đó, việc nghiên cứu sự phân bố theo mùa, hàng ngày và theo độ cao của N, tạo ra mô hình thống kê là có vai trò quan trọng để dự đoán phạm vi của các hệ thống vô tuyến cho các mục đích khác nhau cũng như đánh giá độ chính xác của việc đo tọa độ của hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu (GNSS).
Đây là bài toán được nghiên cứu trong suốt thời gian qua, những kết quả chính được tổng kết và đưa vào trong các khuyến nghị của ITU về chỉ số khúc xạ [77], ảnh hưởng của khúc xạ tầng đối lưu đối với sự lan truyền sóng vô tuyến [78] v. hay rộng hơn là tổng hợp các khuyến nghị về truyền sóng (P Series) [44]. Các vấn đề cơ bản về truyền sóng được nêu trong nhiều tài liệu, chẳng hạn như ở [74]. Sai số xác định vị trí của các hệ thống định vị vệ tinh như GPS, GLONASS bị ảnh hưởng mạnh bởi tầng điện li và tầng đối lưu khí quyển [45].
Điểm mấu chốt để giải quyết vấn đề liên quan đến định vị và chẩn đoán chính xác bầu khí quyển sử dụng hệ thống định vị toàn cầu là nghiên cứu ảnh hưởng của các quá trình xảy ra ở tầng đối lưu và tầng điện li đối với sự lan truyền của sóng vô tuyến cũng như phát triển các mô hình những hiện tượng này và dựa trên chúng là các phương pháp sửa lỗi. Khúc xạ tầng đối lưu và tầng điện li dẫn 3 đến sai số đo tọa độ, tuy nhiên trong trường hợp khúc xạ tầng điện li, độ trễ có thể được bù, ở một mức độ lớn hơn, bằng cách sử dụng chế độ hoạt động hai tần số của hệ thống GNSS (GPS, GLONASS, BeyDou). Đối với độ trễ của tầng đối lưu, phụ thuộc vào sự phân bố không gian của chỉ số khúc xạ dọc theo đường truyền, do vậy cần phải tạo một mô hình để mô tả nó hoặc số liệu quan trắc trực tiếp chỉ số khúc xạ. Số liệu chỉ số khúc xạ tầng đối lưu cũng ứng dụng trong đo độ cao dùng vệ tinh (satellite altimetry).
Ngày nay các vệ tinh đo độ cao như Seltinel là một kỹ thuật quan sát trái đất mạnh mẽ và hấp dẫn, có tầm quan trọng lớn trong một số ứng dụng như đo độ cao địa hình trên mặt đất, nghiên cứu sự thay đổi mực nước biển trung bình (một chỉ báo biến đổi khí hậu quan trọng), quan sát sự tan chảy của các tảng băng lục địa. Bài báo [30] trình bày tổng quan về ảnh hưởng của tầng đối lưu tới tín hiệu của vệ tinh đo độ cao, tức là độ trễ đường đối lưu PD (Path Delay), và các hiệu chỉnh tương ứng. Yêu cầu về chỉ số khúc xạ (để xác định độ trễ tầng đối lưu) là rất cao để đảm bảo yêu cầu của các ứng dụng ngày càng tăng của đo độ cao vệ tinh là từ 1-3 cm. Việc có được quy luật chính xác về chỉ số khúc xạ góp phần hiệu chỉnh số liệu của vệ tinh đo độ cao.
Ngoài các ứng dụng trên còn có các ứng dụng khác sử dụng chỉ số khúc xạ khí quyển như ở hệ thống ra-đa tầm soát vượt đường chân trời; bài toán xác định vị trí quỹ đạo của vệ tinh từ trạm mặt đất; các bài toán trong vật lý khí quyển, khí hậu như chuyển động hỗn loạn trong khí quyển, vật lý vi mô khí quyển, nghiên cứu cán cân bức xạ v. Nhìn chung, ảnh hưởng của khí quyển đến các hệ thống thông tin vô tuyến, định vị dẫn đường, các ứng dụng đo độ cao v. hầu hết đều là bất lợi. Tuy nhiên, trong thực tế, lợi dụng hiện tượng khúc xạ khí quyển tầng đối lưu có thể được sử dụng để truyền sóng đi xa phía dưới đường chân trời, ứng dụng dò tìm và định vị bằng sóng vô tuyến trong các hệ thống ra-đa chân trời.
Nghiên 4 cứu về hiện tượng như siêu khúc xạ có thể ứng dụng để truyền sóng đi được rất xa. Ở tầng điện li lợi dụng hiện tượng phản xạ cũng được sử dụng với mục đích tương tự. Truyền sóng tán xạ tầng đối lưu là khi gặp phải môi trường có sự không đồng nhất về chiết suất và có sự thay đổi gần bằng độ dài của bước sóng cũng được nghiên cứu ứng dụng trong thông tin quân sự. Như vậy, bài toán đánh giá ảnh hưởng tầng điện li và tầng đối lưu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn và phải thực hiện đồng thời.
Việc nghiên cứu môi trường truyền sóng, cụ thể là tầng đối lưu khí quyển, là bài toán quan trọng trong kỹ thuật viễn thông để dự đoán phạm vi của các hệ thống vô tuyến cho các mục đích khác nhau, để cải thiện hiệu quả, nâng cao chất lượng đường truyền tuyến thông tin vô tuyến trong khí quyển.