Luận án tiến sĩ về công tác xã hội trong phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên

Luận án tiến sĩ nghiên cứu công tác xã hội nhóm nhằm phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên, nâng cao nhận thức và bảo vệ quyền lợi.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

232
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

0.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu về quấy rối tình dục

1.2. Các nghiên cứu về công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa và can thiệp quấy rối tình dục

1.3. Các nghiên cứu về CTXH nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục

1.4. Các nghiên cứu về công tác xã hội nhóm trong can thiệp, trị liệu quấy rối tình dục

1.5. Đánh giá tình hình nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NỮ SINH VIÊN TRONG PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC

2.1. Phòng ngừa quấy rối tình dục

2.2. Quấy rối tình dục

2.3. Phòng ngừa

2.4. Phòng ngừa quấy rối tình dục

2.5. Công tác xã hội nhóm

2.6. Đặc trưng của công tác xã hội nhóm

2.7. Các loại hình công tác xã hội nhóm

2.8. Nữ sinh viên

2.9. Công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

2.9.1. Khái niệm công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

2.9.2. Nội dung công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

2.9.3. Tiến trình công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

2.9.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

2.9.5. Những luận điểm lý thuyết hỗ trợ công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

2.9.5.1. Thuyết nhu cầu của Maslow
2.9.5.2. Lý thuyết tương tác biểu trưng
2.9.5.3. Lý thuyết hệ thống
2.9.5.4. Thuyết vai trò
2.9.5.5. Lý thuyết nữ quyền

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NỮ SINH VIÊN TRONG PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC

3.1. Thông tin về địa bàn nghiên cứu

3.2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Tổ chức nghiên cứu

3.2.2. Phương pháp nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC CHO NỮ SINH VIÊN ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

4.1. Nhu cầu của nữ sinh viên với các hoạt động công tác xã hội trong phòng ngừa quấy rối tình dục

4.2. Nhu cầu về loại hình công tác xã hội trong hỗ trợ phòng ngừa quấy rối tình dục

4.3. Nhu cầu về kiến thức, kỹ năng được cung cấp nhằm phòng ngừa bị quấy rối tình dục

4.4. Nhu cầu về địa điểm, thời gian, hình thức tổ chức hoạt động CTXH trong phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên

4.5. Các hoạt động công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên hiện nay

4.6. Các loại hình hoạt động công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục

4.7. Hiệu quả của các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

5. CHƯƠNG 5: THỬ NGHIỆM HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NỮ SINH VIÊN TRONG PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC

5.1. Cơ sở đề xuất hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

5.2. Đề xuất hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

5.2.1. Mục tiêu hoạt động

5.2.2. Nội dung hoạt động

5.2.3. Tiến trình thực hiện hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD

5.2.4. Điều kiện thực hiện hoạt động

5.3. Đánh giá hoạt động

5.3.1. Kết quả thử nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

5.3.2. Đánh giá kết quả thử nghiệm hoạt động CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD

5.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động công tác xã hội với nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CÓ LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về công tác xã hội trong phòng ngừa quấy rối tình dục (QRTD) đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong bối cảnh xã hội hiện nay. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nữ sinh viên là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước các hành vi quấy rối. Theo thống kê, có tới 87% phụ nữ đã từng trải qua các hình thức quấy rối nơi công cộng. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình phòng ngừa hiệu quả. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng công tác xã hội nhóm có thể đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nữ sinh viên, giúp họ tự bảo vệ bản thân. Việc áp dụng các lý thuyết như thuyết nhu cầu của Maslow và lý thuyết tương tác biểu trưng trong công tác xã hội có thể tạo ra những giải pháp thiết thực cho vấn đề này.

1.1. Các nghiên cứu về quấy rối tình dục

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng quấy rối tình dục không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của nạn nhân mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của xã hội. Các hình thức quấy rối như nhìn chằm chằm, trêu ghẹo, hay thậm chí là cưỡng hiếp đều để lại hậu quả nặng nề. Việc nâng cao nhận thức về quấy rối tình dục trong cộng đồng là rất cần thiết. Các chương trình giáo dục giới tính và giáo dục giới tính có thể giúp giảm thiểu tình trạng này. Đặc biệt, việc lồng ghép các nội dung này vào chương trình học cho sinh viên sẽ giúp họ có cái nhìn đúng đắn và có khả năng ứng phó tốt hơn với các tình huống nguy hiểm.

II. Cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm

Cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục được xây dựng dựa trên các khái niệm và lý thuyết liên quan. Công tác xã hội nhóm không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn tạo ra môi trường hỗ trợ cho nữ sinh viên. Các hoạt động nhóm có thể bao gồm các buổi thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm và thực hành kỹ năng ứng phó với các tình huống quấy rối. Việc áp dụng lý thuyết hệ thống và lý thuyết vai trò trong công tác xã hội sẽ giúp xác định rõ hơn vai trò của từng cá nhân trong nhóm, từ đó nâng cao hiệu quả của các hoạt động phòng ngừa. Điều này không chỉ giúp nữ sinh viên tự bảo vệ bản thân mà còn tạo ra một cộng đồng an toàn hơn.

2.1. Đặc trưng của công tác xã hội nhóm

Đặc trưng của công tác xã hội nhóm là khả năng tạo ra sự kết nối giữa các thành viên, giúp họ cảm thấy an toàn và được hỗ trợ. Các hoạt động nhóm có thể bao gồm các buổi tập huấn về nhận diện và ứng phó với quấy rối tình dục. Việc tham gia vào các hoạt động này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn tạo ra sự tự tin cho nữ sinh viên. Hơn nữa, việc chia sẻ kinh nghiệm giữa các thành viên trong nhóm sẽ giúp họ nhận thức rõ hơn về quyền lợi của mình. Điều này rất quan trọng trong việc xây dựng một môi trường học tập an toàn và lành mạnh cho tất cả sinh viên.

III. Thực trạng công tác xã hội nhóm

Thực trạng công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên hiện nay cho thấy nhiều thiếu sót. Mặc dù đã có một số hoạt động được triển khai, nhưng hiệu quả chưa cao. Nhu cầu về kiến thức và kỹ năng phòng ngừa QRTD của nữ sinh viên vẫn còn hạn chế. Các hoạt động hiện tại chưa đáp ứng được mong đợi của sinh viên về nội dung và hình thức tổ chức. Việc khảo sát nhu cầu của nữ sinh viên cho thấy họ cần nhiều hơn các hoạt động thực tiễn, giúp họ có thể ứng phó hiệu quả với các tình huống quấy rối. Điều này cho thấy cần có sự cải tiến trong cách thức tổ chức và triển khai các hoạt động công tác xã hội nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa.

3.1. Nhu cầu của nữ sinh viên

Nhu cầu của nữ sinh viên về các hoạt động công tác xã hội trong phòng ngừa quấy rối tình dục rất đa dạng. Họ mong muốn được trang bị kiến thức về nhận diện các hành vi quấy rối, cũng như các kỹ năng ứng phó hiệu quả. Các khảo sát cho thấy rằng nhiều sinh viên chưa có đủ thông tin về quyền lợi của mình trong các tình huống bị quấy rối. Họ cần được hướng dẫn cụ thể về cách thức phản ứng và tìm kiếm sự trợ giúp khi cần thiết. Việc tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo và các hoạt động ngoại khóa sẽ giúp đáp ứng nhu cầu này, đồng thời nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nữ sinh viên.

IV. Đề xuất hoạt động công tác xã hội nhóm

Đề xuất các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của sinh viên. Các hoạt động này nên bao gồm các buổi tập huấn về nhận diện và ứng phó với các tình huống quấy rối, cũng như các buổi chia sẻ kinh nghiệm từ những người đã trải qua. Việc tổ chức các hoạt động nhóm sẽ tạo ra môi trường an toàn, giúp nữ sinh viên cảm thấy thoải mái khi chia sẻ và học hỏi. Hơn nữa, các hoạt động này cần được thực hiện thường xuyên và liên tục để đảm bảo hiệu quả lâu dài. Điều này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn tạo ra một cộng đồng hỗ trợ lẫn nhau giữa các nữ sinh viên.

4.1. Nội dung hoạt động

Nội dung hoạt động công tác xã hội nhóm cần được thiết kế sao cho phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của nữ sinh viên. Các buổi tập huấn nên bao gồm các chủ đề như nhận diện hành vi quấy rối, kỹ năng tự vệ, và cách tìm kiếm sự trợ giúp. Ngoài ra, việc tổ chức các buổi thảo luận nhóm sẽ giúp sinh viên chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau. Các hoạt động này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn tạo ra sự kết nối giữa các thành viên trong nhóm, từ đó xây dựng một cộng đồng an toàn và hỗ trợ lẫn nhau.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Những vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục Chương 3. Phương pháp nghiên cứu về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục Chương 4: Thực trạng công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên Đà Nẵng hiện nay Chương 5: Thử nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục.

6 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Để góp phần tổng quan các nghiên cứu liên quan đến vấn đề quấy rối tình dục (QRTD) và CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD một cách hệ thống và toàn diện, sâu sắc, luận án đã tiến hành tổng hợp phân tích các nghiên cứu đã có, chọn lọc và kế thừa những kết quả của nhiều công trình trong và nước ngoài, đồng thời tiếp tục làm rõ những nhiệm vụ đặt ra về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu. Tổng quan tài liệu cung cấp một cái nhìn phổ quát vấn đề nghiên cứu, từ khái niệm quấy rối tình dục, nguyên nhân, thủ phạm, CTXH nhóm trong phòng ngừa QRTD. Các nghiên cứu về quấy rối tình dục Trên thế giới: Các nghiên cứu về quấy rối tình dục cho thấy những góc nhìn khác nhau trong định nghĩa về quấy rối tình dục và dù được tiếp cận từ rất sớm đặc biệt là Mỹ và Tây Âu nhưng trong định nghĩa về quấy rối tình dục vẫn còn nhiều tranh cãi, khó thống nhất. Thuật ngữ "quấy rối tình dục" xuất hiện từ Bắc Mỹ vào giữa những năm 1970 trong công trình của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau.

Việc xác định nguyên nhân của quấy rối tình dục là vấn đề mà những nghiên cứu ban đầu này hướng đến. Như với nhiều thuật ngữ, việc đưa ra một định nghĩa có tính phổ quát duy nhất là điều rất khó khăn, khó có thế phân định ranh giới giữa quấy rối tình dục và các biểu hiện tình dục khác. Các mối quan hệ tình dục tại nơi làm việc không phải lúc nào cũng phù hợp, nhưng cũng không phải lúc nào cũng là quấy rối tình dục và gây hại. Thực tế, một số người cho rằng tán tỉnh, đùa giỡn, và thậm chí là khiêu dâm trong công việc có thể là thú vị, vì nó có thể giúp làm cho không khí tại nơi làm việc bớt căng thẳng.

Một vấn đề khác cũng được đề cập trong định nghĩa về quấy rối tình dục gây nhiều tranh cãi đó là phạm vi ảnh hưởng của quấy rối tình dục chỉ tác động tiêu cực đến những nạn nhân hay cả những người xung quanh và những đồng nghiệp. Trong một số nghiên cứu ở Mỹ cho rằng quấy rối tình dục không chỉ ảnh hưởng đến những người mà nó hướng tới (người gây ra và người bị) mà còn tạo ra một môi trường làm việc thù địch ảnh hưởng đến nhiều người khác. Quấy rối tình dục đã trở thành một trong những lĩnh vực thu hút nhiều quan tâm của xã hội nhưng cũng dễ bị hiểu nhầm nhất trong luật. Trong một nghiên cứu, Schultz (1998) cho rằng Luật pháp và dư luận xã hội đang có một quan niệm quá hẹp về môi trường làm việc thù địch và quấy rối hoặc lạm dụng tình dục tại nơi làm việc; sách nhiễu tình dục tại nơi làm việc đang được tiếp cận ở góc độ các vấn đề về giới nhưng lại không có nội dung đề cập đến tình dục.

7 luan an Nhìn chung dường như có những tranh cãi khi đưa ra định nghĩa về quấy rối tình dục, trong bài viết tổng quan về quấy rối tình dục của Afroditi Pina và cộng sự (2009), nhận định rằng dường như chưa có sự thống nhất khi đưa ra định nghĩa về quấy rối tình dục, và các nội dung then chốt đang xoay quanh ba vấn đề chính (i) dấu hiệu cụ thể của quấy rối tình dục (ví dụ: những hành vi phi ngôn ngữ có phải là quấy rối tình dục) (ii) liệu chỉ có những nạn nhân mới bị những ảnh hưởng tiêu cực từ quấy rối tình dục, (iii) liệu rằng phân biệt đối xử nam nữ hiện hữu như là một cách thức của hành vi quấy rối tình dục. Ở Mỹ, trong quy định của pháp luật, quấy rối tình dục là một hình thức phân biệt đối xử về giới tính bao gồm: "Những theo đuổi tình dục không mong muốn, yêu cầu quan hệ tình dục, và những hành vi thể chất và phi ngôn ngữ khác mang tính chất tình dục. Hơn nữa, hành vi đó "rõ ràng hoặc ngầm tác động tới việc làm của một cá nhân, gây trở ngại bất hợp lý đến việc thực hiện công việc của một cá nhân, hoặc tạo ra một môi trường làm việc hăm dọa, thù địch hoặc xúc phạm "(EEOC, tháng 3, 2008). Theo Ủy ban Cơ hội Việc làm ình đẳng của Hoa Kỳ (Tháng 3 năm 2008), quấy rối tình dục là hành vi vi phạm Điều VII của Đạo luật Quyền Công dân năm 1964 và Đạo luật về Quyền Công dân năm 1991 sửa đổi một số điều của Đạo luật 1964, mục VII "cấm phân biệt nghề nghiệp dựa trên chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính và nguồn gốc quốc gia" (EEOC, tháng 3, 2008).

Quấy rối tình dục có thể xảy ra trong nhiều trường hợp khác nhau và có thể bao gồm nhưng không giới hạn ở các hành vi sau đây: a) nạn nhân cũng như thủ phạm quấy rối có thể là phụ nữ hoặc đàn ông. Nạn nhân không phải là người khác giới, b) người quấy rối có thể là người giám sát của nạn nhân, người sử dụng lao động, người giám sát ở một khu vực khác, đồng nghiệp, hoặc không phải là nhân viên, c) quấy rối tình dục (bất hợp pháp) có thể xảy ra mà không gây ra thiệt hại về kinh tế của nạn nhân, e) hành vi quấy rối của người đó không được hoan nghênh (EEOC, tháng 3, 2008). Nếu bất kỳ hành vi nói trên xảy ra, thì có trường hợp quấy rối tình dục theo luật pháp Hoa Kỳ (EEOC, 2008). Tòa án tối cao Hoa Kỳ về bản chất đưa ra các quyết định về việc quấy rối tình dục sau đó được giải thích và áp dụng khi cần thiết bởi các bang riêng l của Hoa Kỳ.

Ở Anh, cho đến tháng 10 năm 2005, luật pháp Anh vẫn chưa đưa ra một qui định cụ thể nào về quấy rối tình dục, mặc dù quấy rối tình dục đã được đề cập trong một số đoạn của Đạo luật Phân biệt Giới tính (SDA, 1975) dưới sự phân biệt bất hợp pháp trên cơ sở tình dục. Sự thay đổi trong Chỉ thị Điều trị công bằng, 2002/73/EEC (luật Lao động Châu Âu), được đưa ra vào ngày 23 tháng 9 năm 2002, đã yêu cầu các Quốc gia thành viên quy định cụ thể vấn đề quấy rối tình dục. Do đó, việc đưa ra Đạo luật Phân biệt Kỳ thị năm 1975 phần 4A được thiết kế để thực hiện chỉ thị, trong đó 8 luan an đưa ra một định nghĩa cụ thể về quấy rối tình dục trong Chỉ thị 76/207/ EEC (Luật Việc làm Anh, 2007). Đạo Luật phân biệt kỳ thị năm 1975 (Sửa đổi) (2008) có hiệu lực vào ngày 6 tháng 4 năm 2008, đề cập: 1) một người được xem là đối tượng quấy rối tình dục phụ nữ nếu: (a) Người đó liên quan đến hành vi tình dục không mong muốn, dẫn đến (i) vi phạm phẩm giá của phụ nữ hoặc (ii) tạo ra một môi trường đe doạ, thù địch, hạ thấp, làm nhục hoặc gây khó chịu cho người phụ nữ.

(b) Người đó tham gia vào bất kỳ dạng hành vi có tính chất tình dục không mong muốn, bằng miệng, phi ngôn ngữ hoặc thể chất nào một cách có mục đích (i) vi phạm phẩm giá của người phụ nữ hoặc (ii) tạo ra sự hăm dọa, thù địch, hạ nhục, hoặc tạo môi trường gây khó chịu, hoặc (c) trên cơ sở từ chối hoặc không tuân theo những hành vi không mong muốn được đề cập ở các điểm (a) hoặc (b), anh ta đối xử với cô ấy kém thiện chí hơn nếu cô ấy từ chối. 2) Hành vi sẽ được coi là có hiệu lực được đề cập trong tiểu đoạn (i) hoặc (ii) của tiểu mục (1) (a) hoặc (b) chỉ khi, có tính đến tất cả các hoàn cảnh, bao gồm đặc biệt là nhận thức về Người phụ nữ, cần được coi là có hiệu quả "(Ủy ban ình đẳng và Nhân quyền, tháng 10, 2008). hoặc (ii) tạo ra sự hăm dọa, thù địch, hạ nhục, Hoặc môi trường gây khó chịu cho cô ấy, hoặc (c) trên cơ sở từ chối hoặc không tuân theo những hành vi không mong muốn được đề cập ở các điểm (a) hoặc (b), anh ta đối xử với cô ấy kém thuận lợi hơn anh ta nếu cô ấy không từ chối , Hoặc trình bày, hành vi. 2) Hành vi sẽ được coi là có hiệu lực được đề cập trong tiểu đoạn (i) hoặc (ii) của tiểu mục (1) (a) hoặc (b) chỉ khi, có tính đến tất cả các hoàn cảnh, bao gồm đặc biệt là nhận thức về Người phụ nữ, cần được coi là có hiệu quả "(Ủy ban Bình đẳng và Nhân quyền (EEOC), tháng 10, 2008).

Quấy rối tình dục ảnh hưởng đến nhiều người, chiếm tỷ lệ phần trăm lớn nhất so với các hình thức kỳ thị khác (Bargh, Raymond, Pryor, & Strack, 1995), Spitzberg,. (1999) đã xem xét 120 nghiên cứu liên quan đến hơn 100.000 người tham gia, kết quả tỷ lệ thống kê và thấy rằng, trên thực tế, hành vi quấy rối tình dục và cưỡng ép thường phổ biến hơn so với các hình thức xâm phạm tình dục mạnh mẽ nhất. Mặc dù không phải lúc nào quấy rối tình dục cũng là một hành động thường xuyên gây ra bởi nam giới với phụ nữ (Bargh, 1995). Tại Hoa Kỳ, cuộc điều tra thống kê gần đây nhất được tiến hành bởi Ủy ban Bảo vệ Hệ thống Merit Hoa Kỳ (USMSPB, 1995) khảo sát nhân viên trong chính phủ liên bang.

Cuộc khảo sát này là sự tiếp nối của hai cuộc điều tra trước của USMSPB (1981, 1988). Những phát hiện của họ cho thấy hầu hết tất cả (93%) trong số 44% phụ nữ cho biết thủ phạm quấy rối tình dục là nam giới. Tuy nhiên, 65% trong số 19% nam giới cho 9 luan an biết thủ phạm của những hành vi quấy rối tình dục là phụ nữ. Thêm vào đó, nhận thức về các hành vi gây quấy rối tình dục dường như đã tăng lên trong khoảng thời gian giữa năm 1980 và năm 1994, đặc biệt là tỷ lệ hình thức nam giới thực hiện trêu đùa có yếu tố tình dục không mong muốn và nhận xét gợi dục tăng từ 42% lên 64%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về công tác xã hội trong phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên" của tác giả Lê Thị Lâm, dưới sự hướng dẫn của TS. Phan Mai Hương và TS. Đỗ Thị Vân Anh, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp công tác xã hội nhằm phòng ngừa quấy rối tình dục đối với nữ sinh viên, một vấn đề nhức nhối trong môi trường học đường hiện nay. Nội dung của luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng quấy rối tình dục mà còn đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao nhận thức và bảo vệ quyền lợi cho nữ sinh viên.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến pháp luật và công tác xã hội, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Giáo Trình Tư Pháp Đối Với Người Chưa Thành Niên Tại Trường Đại Học Luật Hà Nội, nơi cung cấp thông tin về quyền lợi và trách nhiệm của thanh thiếu niên trong xã hội. Bên cạnh đó, Kỷ luật lao động theo pháp luật Việt Nam hiện nay: Thực trạng và hướng hoàn thiện cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý liên quan đến quyền lợi của người lao động. Cuối cùng, Thực trạng và giải pháp cho hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn về các vấn đề pháp lý trong lĩnh vực thương mại điện tử, một lĩnh vực đang phát triển mạnh mẽ và có liên quan đến nhiều khía cạnh của công tác xã hội.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp thêm nhiều góc nhìn khác nhau về các vấn đề xã hội và pháp lý hiện nay.