Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 1. Khái quát chung về thi đua, khen thưởng 1. Khái niệm thi đua Từ lâu, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã coi thi đua như là một đặc trưng riêng có trong xã hội chủ nghĩa.Ăng-ghen cho rằng, trong xã hội tương lai, cạnh tranh sẽ không còn; thay vào đó là sự thi đua lẫn nhau giữa những người lao động trong quá trình sản xuất. Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới ra đời để lãnh đạo xây dựng xã hội mới, V.
Lênin đòi hỏi “nhiệm vụ của chúng ta hiện nay, khi chính phủ xã hội chủ nghĩa đang cầm quyền, là tổ chức thi đua”. Khi phân tích quá trình hợp tác lao động xã hội, C. Mác đã phát hiện ra đặc điểm tâm lý thi đua của con người trong lao động và giao tiếp.Mác, thi đua là một hiện tượng xã hội; thi đua nảy sinh trong quá trình tổ chức và phân công lao động xã hội. Ông viết “…ngay sự tiếp xúc xã hội cũng đẻ ra thi đua, cũng kích thích nguyên khí làm tăng năng suất cá nhân của từng người riêng rẽ… Đó là vì con người ta, do bản tính, nếu không phải là động vật chính trị như Arixtôt nói, thì dầu sao cũng là một động vật xã hội”.Mác cũng sử dụng khái niệm tinh thần thi đua để nói về tâm lý thi đua giữa những người trong lao động trong quá trình hợp tác.
Nghiên cứu quá trình hợp tác giữa con người và con người trong lao động sản xuất, thấy được hiện tượng diễn ra một cách khách quan trong quá trình hợp tác lao động, C. Mác đã đưa ra khái niệm về thi đua "Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người. Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt nghị lực sinh động tăng thêm nghị lực cho riêng từng người”. 8 Luan van Bàn về ngày thứ bảy lao động cộng sản Lênin đã nói đến thi đua xã hội chủ nghĩa đó là phong trào lao động tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột.
Lênin coi đây là một sáng kiến vĩ đại, chính quyền cách mạng cần chăm lo, tổng kết, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm. Theo Phêđôxêép nhà khoa học Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô trước đây cho rằng "Thi đua là sự đọ sức trong lao động và sáng tạo, mang đặc tính của con người trong xã hội, được sinh ra bởi sự hợp tác lao động và bởi mối quan hệ xã hội của con người trong quá trình sản xuất.", "Thi đua xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ xã hội mới có lịch sử. Nó mang tính sáng tạo xã hội của giai cấp công nhân,. thi đua xã hội chủ nghĩa xuất hiện như là nhiệt tình cách mạng là hành động tự giác của quần chúng lao động - những người đã tổ chức sản xuất xã hội theo kiểu mới trong lao động".
Ngay từ khi Nhà nước ta mới ra đời Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng đến công tác thi đua. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh thi đua tồn tại khách quan trong xã hội, người dạy ". Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những công việc hàng ngày. Thật ra công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua".
Thi đua là một hiện tượng khách quan, là qui luật phát triển tất yếu trong quá trình hợp tác lao động của con người. Ở đâu có hợp tác lao động thì ở đó nảy sinh thi đua. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, thi đua yêu nước bao giờ cũng là phong trào thi đua tập thể của những công nhân, nông dân, trí thức, những người lao động tự mình làm chủ vận mệnh của mình, không đối kháng về lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; mọi người mang hết nhiệt tình và khả năng của mình ra để xây dựng đất nước. Nguyên tắc quan trọng nhất của thi đua xã hội chủ nghĩa là đoàn kết, hợp tác cùng phát triển, phổ biến sáng kiến, kinh nghiệm; Người tiền tiến thân ái giúp đỡ người chậm tiến để đạt tới sự tiến bộ chung.
Hoàn toàn không 9 Luan van giống với bí mật thương nghiệp trong cạnh tranh. Thi đua xã hội chủ nghĩa chẳng những nhằm mục tiêu kinh tế mà còn nhằm xây dựng con người mới, rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động. Thi đua phải có mục đích, mục tiêu. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thi đua ái quốc nhằm 3 mục đích chính: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.
Tức là làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm Tổ quốc độc lập, tự do”. Nói như vậy thi đua có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả. Thông qua thi đua để giáo dục động viên mọi người, nâng cao lòng yêu nước, ý thức giác ngộ giai cấp, trách nhiệm công dân và tính cộng đồng xã hội. Công tác thi đua qua những chặng đường lịch sử, đặc biệt thấy rõ vai trò thi đua thời kỳ đổi mới, trong cơ chế thị trường Nhà nước đã có Luật Thi đua, khen thưởng ngày 26/11/2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng ngày 16/11/2013 quy định: "Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [30].
Nguyên tắc thi đua Khoản 1, Điều 6, Luật Thi đua, Khen thưởng quy định: “Nguyên tắc thi đua gồm tự nguyện, tự giác, công khai; đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển” [30]. Để đạt được mục tiêu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, cơ quan, tổ chức thì các cấp ủy Đảng và chính quyền phải lãnh đạo và tổ chức thực hiện phong trào thi đua một cách thiết thực; triển khai nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động, giác ngộ quần chúng cho họ thấy rõ vai trò, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước đối với mỗi cá nhân, gia đình và xã hội; qua đó nhận thức đúng trách nhiệm của công dân có ý thức tự nguyện, tự giác tham gia. Nguyên tắc tự nguyện, tự giác để thể hiện quyền dân chủ của công dân; thấy rõ trách nhiệm của cơ quan tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia các phòng trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị. 10 Luan van Phòng trào thi đua muốn đạt được kết quả tốt, việc công khai có ý nghĩa quan trọng.
Nội dung công khai gồm: công khai mục tiêu, mục đích, vai trò, tác dụng của phong trào thi đua; công khai trong kế hoạch, xây dựng tiêu chí thi đua, tổ chức phát động, ký giao ước thi đua; kiểm tra, đôn đốc, bình xét, suy tôn, biểu dương điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua; công khai trong trao tặng danh hiệu, tiền thưởng, tuyên truyền nhân điển hình tiên tiến và công khai tài chính. Qua việc công khai, thể hiện tính minh bạch, dân chủ trong thi đua, góp phần tạo niềm tin trong mỗi cá nhân tham gia phong trào. Nguyên tắc công khai là cơ sở đảm bảo tính chính xác trong khen thưởng. Hình thức tổ chức phong trào thi đua Thi đua thường xuyên: là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể tổ chức phát động, nhằm thực hiện tốt công việc hằng ngày, hằng tháng, hằng quý, hằng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các đơn vịcó chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng nhau. Thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt): là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm được xác định trong một khoảng thời gian nhất định hoặc tổ chức thi đua để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đột xuất, cấp bách của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ phát động thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) khi đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp và thời gian. Danh hiệu thi đua Theo Điều 7, Luật Thi đua, Khen thưởng, danh hiệu thi đua gồm: - Danh hiệu thi đua đối với cá nhân; - Danh hiệu thi đua đối với tập thể; - Danh hiệu thi đua đối với gia đình.
11 Luan van Theo khoản 1, Điều 20, Luật Thi đua, khen thưởng quy định, danh hiệu thi đua đối với cá nhân gồm: - “Chiến sỹ thi đua toàn quốc” - “Chiến sỹ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương” - “Chiến sỹ thi đua cơ sở” - “Lao động tiên tiến”, “Chiến sỹ tiên tiến” Khoản 2, Điều 20, Luật Thi đua, khen thưởng quy định, danh hiệu thi đua đối với tập thể gồm: - “Cờ thi đua của Chính Phủ” - “Cờ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương” - “Tập thể lao động xuất sắc”, “Đơn vị quyết thắng” - “Tập thể lao động tiên tiến”, “Đơn vị tiên tiến” - “Thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa” Khoản 3, Điều 20, Luật Thi đua, khen thưởng quy định, danh hiệu thi đua đối với hộ gia đình là “Gia đình văn hóa” [30]. Các danh hiệu thi đua được xét tặng hằng năm theo đợt. Khái niệm khen thưởng Khen thưởng là công việc đã tồn tại khá lâu trong lịch sử xã hội, gắn liền với thưởng phạt của nhà nước thuộc các chế độ xã hội khác nhau. Khen thưởng đã được thực hiện ở nước ta từ các triều đại phong kiến trước đây.
Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã ghi rõ những hình thức khen thưởng như sau: “Khen thưởng người có công trong chiến trận Khen thưởng người có công trong việc đi sứ Khen thưởng người phò tá có công lao tài đức Khen thưởng người tiến cử, người hiền tài Khen thưởng người có lời tâu đúng 12 Luan van Khen thưởng người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên Khen thưởng người có công làm thủy lợi Khen thưởng người có tài văn chương Khen thưởng người cao tuổi. Qua những hình thức khen thưởng đó chứng tỏ các triều đình phong kiến đã biết khích lệ động viên mọi người hăng hái lập công, để được khen thưởng. Đó chính là tinh thần yêu nước sâu sắc của dân tộc.