MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài + Lý do thứ nhất: tôi đã được làm luận văn thạc sĩ với chủ đề bài toán ngược và vấn đề chỉnh hóa với Thầy hướng dẫn, PGS. Nguyễn Huy Tuấn. Thời gian làm luận văn thạc sĩ về chủ đề này, cụ thể là: “Chỉnh hóa nghiệm bài toán Cauchy cho phương trình elliptic phi tuyến”, đã giúp tôi có nhiều kiến thức nền tang cho việc học nghiên cứu sinh sau này.
+ Lý do thứ hai: Nhóm nghiên cứu của Thầy hướng dẫn, PGS. Nguyễn Huy Tuấn, PGS. Bùi Lê Trọng Thanh, có nhiều kinh nghiệm và sở trường về chủ đề định tính của nghiệm, đặc biệt là hướng nghiên cứu chỉnh hóa. Vì thế, Thầy đã giao cho.
tôi một số các bài toán để tôi tập trung nghiên cứu. s Lý do thứ ba: Dù các bài toán ngược cho phương trình parabolic được nghiên cứu nhiều, nhưng phương trình hyperbolic, phương trình sóng dam,. còn ít được nghiên cứu. Đặc biệt, bài toán ngược cho hệ phương trình còn mới mẻ.
Chúng tôi đã vận dụng các phương pháp chỉnh hóa để khảo sát các bài toán mới. Dựa vào các lý do nêu trên, tôi đã theo đuổi hướng nghiên cứu này và nhờ sự định hướng của hai Thầy hướng dẫn đã lựa chọn cho tôi đề tài của luận án tiến sĩ với tên “Chỉnh hóa một số phương trình và hệ phương trình phi tuyến”. Đối tượng nghiên cứu Đề tài của luận án tập trung khảo sát các bài toán sau: * Chỉnh hóa nghiệm cho phương trình sóng dầm phi tuyến. * Chỉnh hóa nghiệm cho hệ phương trình sóng dầm phi tuyến.
* Bài toán ngược thời gian cho phương trình hyperbolic phi tuyến. * Chỉnh hóa nghiệm phương trình khuếch tán phi tuyến với đạo hàm conformable. * Bài toán không chỉnh cho phương trình elliptic ngẫu nhiên với điều kiện phi dia phương. Pham vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài thuộc lĩnh vực Toán học, ngành Toán giải tích, hướng nghiên cứu tập trung vào chủ đề chỉnh hóa ng lệm phương trình, hệ phương trình dao hàm riêng phi tuyến, điều kiện phi địa phương.
Ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn của đề tài Lam phong phú thêm các kết quả nghiên cứu về bài toán không chỉnh cho các loại phương trình đạo hàm riêng. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao thứ hạng và uy tín về nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh ở trong nước và quốc tế. Phương trình và hệ phương trình đạo hàm riêng thu hút sự quan tâm của cộng đồng các nhà toán học trên thế giới vì có nhiều ứng dụng khác nhau như vật lý, quang học, y học, sinh học, kinh té,.
Các bài toán thực tiễn này thường được mô hình hóa thành những phương trình, hệ phương trình đạo hàm riêng ứng với nhiều hướng tiếp cận khác nhau như bài toán xác định hàm nguồn, bài toán giá trị ban đầu, bài toán giá trị cuối, bài toán xác định tính chất của nghiệm. Bên cạnh đó, các kết quả của đề tài có thé xem như là một tài liệu tham khảo hỗ trợ trong việc dạy và học trong hướng giải tích, đặc biệt là môn phương trình đạo hàm riêng. Chương 2 TỔNG QUAN 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Chủ đề chỉnh hóa nghiệm cho phương trình và hệ phương trình đạo hàm riêng, đặc biệt là các phương trình, hệ phương trình dạng phi tuyến, luôn được cập nhật, mang tính thời sự và ngày càng nhận được sự thu hút của rất nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới.
Nhiều nhà tác giả đã nghiên cứu và đạt được nhiều kết quả công bố trên các tạp chí uy tín, có chỉ số ảnh hưởng cao như Communications in Partial Differential Equations, SIAM Journal on Applied Mathematics, Journal of Differential Equations, Maths Annalen, Mathematics of Computation,. Khi xét bat ky mô hình biểu diễn bởi phương trình hay hệ phương trình đạo hàm riêng thì các câu hỏi sau đây thường sẽ được quan tam * Thứ nhất, phương trình và hệ phương trình trên có tồn tại nghiệm hay không? Với điều kiện thế nào thì nghiệm tồn tại? + Thứ hai, nếu phương trình và hệ phương trình đang xét có nghiệm, thì nghiệm đó duy nhất, hay là bài toán có nhiều nghiệm? * Thứ ba, nghiệm có ổn định, hay phụ thuộc liên tục vào dữ liệu đầu vào (tức là các đữ liệu quan sát được) hay không? Để minh họa rõ hơn các câu hỏi trên thì nhà toán hoc Hadamard đã đưa ra khái niệm về tính chỉnh và tính không chỉnh của một bài toán. Ban đầu, ông đã xét bài toán Cauchy phương trình sóng, ta có thể xem chỉ tiết tại [1]. Cụ thể như sau: Một bài toán Ax = y (A là một ánh xạ đi từ không gian mêtric X vào không gian mêtric Y) được gọi là bài toán chỉnh (well-posed problem) theo định nghĩa của Hadamard nếu nó thỏa mãn ba tính chất sau: Tinh chất 1: Tồn tại, có nghĩa là tồn tại nghiệm x € X thỏa Ax = y, Vy € Y; Tính chất 2: Duy nhất, nếu bài toán Ax = y có nghiệm xị,x¿ € X thì xị = xa.
Tinh chất 3: On định, có nghĩa là nghiệm x phụ thuộc liên tục vào y, hay nói cách khác, với mọi dãy {x„} € X thỏa Ax, — y thÌ x„ — x. 3 Nếu bài toán không thỏa một trong ba tính chất trên thi được gọi là bài oán không chỉnh (non well-posed problem hoặc ill-posed problem) theo định nghĩa của Hadamard. Chủ đề chỉnh hóa cho bài toán ngược cho các phương trình parabolic thu hút rất nhiều nhà toán học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Chúng tôi có thể nêu ra một vài ví dụ minh họa như sau: Trên bình diện quốc tế có một số nhà toán học quan tâm đến bài toán giá trị cuối như: * Ting Wei (Trường Đại học LanZhou, Trung Quốc [2-4]); * Yongzhi Steve Xu (Trường Dai hoc Louisville, Mỹ [Š-8]); * Daniel Lesnic (Trường Đại học Leeds, Anh [9-I I]); * Michael Victor Klibanov (Trường Đại học Bắc Carolina, Mỹ [12-14]).
Tình hình nghiên cứu trong nước Trong nước, một số nhóm nghiên cứu mạnh liên quan đến chủ đề của luận án, điển hình như nhóm nghiên cứu của: ® Dinh Nho Hào (Viện Toán học Việt Nam [I5—1§]); s Đặng Đức Trọng (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh [19-23]): * Nguyễn Huy Tuấn (Trường Đại học Văn Lang [24-29]); * Nguyễn Văn Đức (Trường Dai học Vinh [30-32]). Hiện nay, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Huy Tuấn và cộng sự đã giải quyết được nhiều bài toán mở, trong đó có công trình gần đây trên SIAM Math Analysis [33]. Nhóm nghiên cứu của Đặng Đức trọng, Phạm Hoàng Quân, Nguyễn Huy Tuấn đã đào tạo một số nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án từ 2010 đến nay, về chủ đề này như: Lê Minh Triết, Bùi Thanh Duy, Võ Văn Âu, Nguyễn Hoàng Lực, Nguyễn Đức Phương, Trần Ngọc Thạch, Lê Đình Long,.
Nội dung nghiên cứu của luận án Trong luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu tinh không chỉnh và van đề chỉnh hóa cho một số phương trình và hệ phương trình đạo hàm riêng dạng phi tuyến. Dựa trên dữ liệu đầu vào của bài toán, ta có thé chia các bài toán Cauchy cho phương trình và hệ phương trình đạo hàm riêng làm 2 loại sau: Loại 1. Bài toán thuận hay bài toán giá trị ban dau. Mục tiêu là xác định dữ liệu phân bố khi biết giá trị phân bố tại thời điểm ban đầu ¢ = 0.
Tinh chỉnh (well-posedness) của bài toán Loại / cho các phương trình, hệ phương trình đạo hàm riêng đã được khảo sát và đã có rất nhiều công trình về chủ đề này. Trong đó, ta có thể tham khảo một số kết quả điển hình như các công trình của Thầy Nguyễn Thành Long [34-39], các quyển sách chuyên ngành về bài toán giá trị ban đầu của Wolfgang [40], Karan [41]. Bài toán ngược thời gian hay bài toán giá trị cuối. Xác định dit liệu phân bỗ khi biết giá trị phân bố tại thời điểm cuối ? = 7 với 7 là một số dương cho trước.
Bài toán giá trị cuối (terminal/final value problem) hay còn gọi là bài toán ngược thời gian (backward problem) thường là bài toán không chỉnh theo nghĩa Hadamard. Liên quan đến các bài toán ngược thời gian hay bài toán giá trị cuối, ta phải kể n cuốn ách của Lattes và Lions năm 1969, xem chỉ tiết ở tài liệu [42]. Có thể nói rằng các tác giả này đã đặt nền móng cho bài toán ngược thời gian cho phương trình parabolic như sau u, + Au =0, u(T) = 9.1) Viéc nghiên cứu bai toán trên bắt nguồn trong thực tế, trong các lĩnh vực cơ học, vật ly,. và được nhiều nhà toán học quan tâm.
Thật vậy, trong các vụ hỏa hoạn, chúng ta rất khó đo được nhiệt độ tại thời điểm bắt đầu cháy hoặc nhiệt độ trong lúc đang cháy (to > 0) mà ta chỉ xác định được nhiệt độ tại thời điểm sau đó (t; > fo). Cũng tương tự, trong sinh học, việc xác định mật độ cá thể của một loài sinh vật tại thời điểm trong quá khứ là vấn đề quan tâm của các nhà sinh vật học. Trong khi đo đạc thực tế, chúng ta thường nhận phải dự liệu bị sai số vì một số lí do khách quan hoặc chủ quan. Lions đã chứng minh cho bài toán (2.1) rằng khi có sai số nhỏ của dữ liệu tại thời điểm cuối ¿ trong (2.1), sẽ dẫn đến sa At lớn của dữ liệu tại thời điểm ban đầu z(0).
Sau đây, ta xét một ví dụ về ứng dụng của bài toán ngược trong xử lý ảnh dựa trên Khóa trường hè tháng 6 năm 2018 Gene Golub SIAM được tổ chức tại Breckenridge, Colorado, USA về chủ dé “Inverse problems: Systematic integration of data with models under uncertainty”. Xét bai toán tuyến tinh tổng quát trong mô hình khôi phục hình ảnh bị nhòe có dạng như sau g=Aftn, (2.2) trong đó g là ảnh tại thời điểm quan sát, f là ảnh lúc ban dau, A là toán tử tuyến tinh 5 gây nhiễu mờ ảnh (blur), ảnh chụp bị rung lắc (tomography),. và mô hình nhiễu ngẫu nhiên. Mục tiêu: Tìm lại dit liệu ƒ khi biết trước dữ liệu g.
“Trong bài toán này, ta chuyển dữ liệu về dang ma trận và xét toán tử A được cho bởi như sau: f= (flo) fl)., — 1}, [X]† là ma trận chuyển vị của ma trận X va ma trận A có dạng cụ thể như sau h[0] = h[M-— 1] nh h[1] A= h[1] ñ[0]} — h[NM-— 1] (23⁄6) h[N — 1] h[N - 2] vn h[0] Ta đặt V = [vo VỊ. vy-1] va A =diag(Ao 4i.