Mở đầu 1.1 Lý do chọn đề tài Khoảng năm 1870, Sophus Marius Lie (1842-1899) trong khi nghiên cứu các loại phép biến đổi hình học đã đặt nền móng cho một lý thuyết đặc biệt, về sau được gọi là Ly thuyết Lie. Ngày nay, Lý thuyết Lie, được hiểu là lý thuyết liên quan đến nhóm Lie và đại số Lie, đã phát triển vượt bậc, ứng dụng mạnh mẽ không chỉ trong Toán học mà cả trong Vật Lý hiện đại (đặc biệt là Thuyết tương đối) và đã được chứng minh là “chia khóa” để giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến Hình học và Phương trình Vi phân, kết nối Toán hoc lý thuyết với thế giới hiện thực [8| Mở dau]. Mặc dù ra đời từ khoảng sau của thé kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ trước, Lý thuyết Lie vẫn còn có sức hấp dẫn giới toán học cho đến tận ngày nay, cũng như do phạm vi ứng dụng của nó ngày càng được mở rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như Xác suất & Thống kê, Phân tích định lượng trong kinh tế, Toán tài chính {6} 50] [31], lượng tử,. Chính vì tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đó, Lý thuyết Lie đã được quan tâm đặc biệt bởi cộng đồng toán học.
Tuy nhiên, bài toán cơ bản của Lý thuyết Lie là phân loại nhóm Lie va dai số Lie chính xác đến dang cấu, là bài toán khó va cho đến nay vẫn còn là bài toán mở. Kết quả cơ bản trong Lý thuyết Lie cho thấy khi hạn chế xét lớp các nhóm Lie liên thông đơn liên, chúng ta có sự tương ứng 1-1 giữa tập các nhóm Lie liên thông đơn liên và tập các đại số Lie. Bởi vậy, mỗi phép phân loại trên một lớp nào đó các nhóm Lie liên thông đơn liên (tương ứng, đại số Lie) đều có thể “phiên dịch” thành một phép phân loại trên lớp các đại số Lie (tương ứng, nhóm Lie liên thông đơn liên). Sau bài toán phân loại các đại số Lie, bài toán mà các nhà toán học đặc biệt quan tâm là nghiên cứu biểu diễn đối phụ hợp của các nhóm Lie tương ứng với các đại số Lie đã được phân loại.
Kirillov đã dua ra phương pháp quỹ dao và nó nhanh chóng 13 trở thành phương pháp quan trọng nhất trong lý thuyết biểu diễn của nhóm Lie và đại số Lie (xem [37], Mục 15). Chia khóa của phương pháp quỹ đạo Kirillov là quỹ đạo của biểu diễn đối phụ hợp (viết tắt là K-quỹ đạo) của nhóm Lie. Do đó, việc mô tả hình học các K-quỹ đạo của mỗi nhóm Lie là rất quan trong cần được nghiên cứu. Đồng thời, nghiên cứu các phan lá tạo thành từ các quỹ đạo đối phụ hợp đó ở vị trí tổng quát.
Việc nghiên cứu các phân lá trên đa tạp đã có lịch sử lâu đời trong toán học. Từ các công trình của C. Reeb vào năm 1944, của C. Ehresmann vào năm 1951 và của G.
Reeb vào năm 1952, các phân lá trên đa tạp đã được phát triển nhanh chóng. Giờ đây, chúng trở thành tâm điểm của rất nhiều hoạt động nghiên cứu (xem [41] của H. Một vấn đề toàn cục đáng chú ý của một phan lá là xét không gian các lá của chúng. Nhìn chung, không gian lá của một phân lá với tôpô thương là một không gian tôpô khá khó nghiên cứu.
Để cải thiện thiếu sót đó, A. Connes [I5] đã đề xuất khái niệm về phân lá đo được vào năm 1982 và liên kết mỗi phân lá như vậy với một C*-dai số. Trong vài thập kỷ gần day, những khái niệm này của A. Connes đã trở thành công cụ quan trong của hình học vi phân không giao hoán và thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà toán học trên thế giới.
Vì vậy, đề tài của luận án có xuất phát điểm từ hai hướng nghiên cứu lớn. - Hướng lớn thứ nhất là phân loại các nhóm Lie, đại số Lie giải được hữu hạn chiều trên trường thực hay phức. Hướng này tất nhiên là quá rộng và rất khó, trong trường hợp tổng quát, bài toán phân loại các nhóm Lie và đại số Lie giải được với số chiều lớn hơn 6 vẫn chưa được giải quyết triệt để. Bởi thế, người ta thường thu hẹp hơn việc phân loại trên những lớp nhóm Lie và đại số Lie giải được khi ấn định một số chiều n (n > 7) nào đó cùng với một hay vài cấu trúc bổ sung chang hạn như đại số dẫn xuất có số chiều hoặc đối chiều nhỏ, căn lũy linh đã biết,.
- Hướng lớn thứ hai là nghiên cứu biểu diễn đối phụ hợp — một biểu diễn được xem là quan trọng nhất của nhóm Lie và đại số Lie, đồng thời nghiên cứu các phân lá tạo thành từ các quỹ đạo đối phụ hợp ở vị trí tổng quát. Cả hai hướng nghiên cứu trên là một bộ phận giao thoa giữa các lĩnh vực của Dại số, Lý thuyết số và Hình học-Tôpô đồng thời được rất nhiều nhà toán học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Bởi thế, có thể khẳng định rằng đề tài luận án là thiết thực, có tính thời sự và có ý nghĩa khoa học. Những kết quả đạt được là những đóng góp tích cực cho các lĩnh vực Đại số, Lý thuyết số và Hình học- Tôpô.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm: - Lớp đại số Lie thực giải được 7-chiều có căn lũy linh ð-chiều và lớp Lie(n, 2) các đại số Lie giải được n-chiéu có ideal dẫn xuất 2-chiều.
- Lớp MD-phân lá tổng quát (hay GMD-phan lá) liên kết với các nhóm Lie liên thông đơn liên tương ứng với các đại số Lie thực giải được bất khả phân 7-chiều và lớp các C*-đại số Connes liên kết với các GMD-phan lá.3 Phương pháp nghiên cứu Luận án được thực hiện bằng các phương pháp như sau: - Tương tự hóa và cải tiến một số kỹ thuật trong một số nghiên cứu trước đó để phân loại một vài lớp đại số Lie giải được đặc biệt. - Sử dụng công cụ đại số máy tính, thuật toán phân tích tam giác (Triangular decomposition), để kiểm tra đẳng cấu giữa các đại số Lie thu được. - Dựa theo Phương pháp quỹ đạo Kirillov [87], đặc biệt là phương pháp mô tả các K-quỹ đạo của Vu [§I]. - Phương pháp của Topo phân lá kết hợp với Hình học giải tích.
- Viết bài báo khoa học, tham gia báo cáo tại hội nghị khoa học hoặc xê-mi-na để nhận góp ý, phản biện, đánh giá từ các chuyên gia về kết quả nghiên cứu.4 Y nghĩa khoa hoc của van dé nghiên cứu Việc thực hiện thành công đề tài này có ý nghĩa khoa học như sau: - Kết quả về phân loại các đại số Lie thực giải được n-chiéu không lũy linh bậc hai và có ideal dan xuất 2-chiều kết hợp với các kết quả trước đó của Eberlein 20] đã cho một phân loại đầy đủ toàn bộ lớp Lie(»,2) các đại số Lie thực giải được với đại số dẫn xuất 2 chiều. Đồng thời, kết quả tổng quát trên lớp Lie(n, 2) bổ sung thêm một kết quả trong bài toán phân loại các đại số Lie thực, giải được theo hướng tiếp cận bằng cấu trúc. - Kết quả về phân loại lớp các đại số Lie thực giải được 7-chiều có căn lũy linh 5-chiều là g; ¿,g;„ góp phần giải quyết triệt để bài toán phân loại các đại số Lie giải được 7-chiều có căn lũy linh 5-chiều. Đồng thời, các kết quả này cùng với kết quả trong bài báo và các kết quả có trước của Gong [29], Parry [53], Hindeleh và Thompson [32], Ndgomo và Winternitz [51], Rubin và Winternitz [59], Snobl va Karasek [68], Snobl va Winternitz {69} [70], Wang [79] cho ta sự phân loại đầy đủ lớp các đại số Lie giải được bất khả phân 7-chiéu.
Kết quả này 15 cũng bổ sung thêm một kết quả phân loại các đại số Lie thực, giải được theo hướng tiếp cận bằng cấu trúc và số chiều. - Mô tả bức tranh các quỹ đạo đối phụ hợp (K-quỹ đạo) chiều cực đại của tất cả các nhóm Lie liên thông, đơn liên tương ứng với các đại số Lie thực giải được 7-chiều đã được phân loại. Tiếp tục, chỉ ra rằng đối với mỗi nhóm Lie được xét, họ các K-quỹ đạo chiều cực đại ở vị trí tổng quát tạo thành một phân lá đo được (theo nghĩa của Connes), đồng thời phân loại tôpô tất cả các phân lá này cũng như mô tả C*-đại số Connes của chúng. Các kết quả này được tổng quát hóa từ những kết quả của Thầy hướng dẫn và nhiều cộng sự về lớp nhóm Lie MD đã công bố trước đây [83] [84], đồng thời, cũng cho chúng ta các ví dụ đầu tiên về lớp các phân lá hình thành bởi các K-quỹ đạo chiều cực đại ở vị trí tổng quát của các nhóm Lie giải được không phải là MD-nhóm.
16 Chương 2 Tổng quan về bài toán phân loại các đại sô Lie giải được và hình hoc các K-quy đạo của nhóm Lie liên thông, đơn liên tương ứng 2.1 Tổng quan về bài toán phân loại các đại số Lie giải được và hình học các K-quỹ đạo tổng quát của nhóm Lie liên thông, đơn liên tương ứng Theo Dinh lý Levi [43] năm 1905 và Malcev [44] năm 1945, mọi đại số Lie hữu han chiều trên một trường có đặc số 0 đều phân tích được thành tổng nửa trực tiếp của một đại số Lie con nửa đơn và một ideal giải được tối đại của nó. Do đó, bài toán phân loại các đại số Lie tổng quát được quy về bài toán phân loại các đại số Lie nửa đơn và đại số Lie giải được. Trong đó, bài toán phân loại các đại số Lie nửa đơn đã được giải quyết triệt để bởi Cartan [13] năm 1894 (trên C) và bởi Gantmacher [26] năm 1939 (trên R). Bởi vậy, chúng ta chỉ còn phải xét bài toán phân loại các đại số Lie giải được.
Đối với lớp các đại số Lie giải được, mặc dù có một vài phép phân loại trong trường hợp thấp chiều nhưng việc phân loại trong trường hợp số chiều tùy ý vẫn còn là một bài toán mở. Cho đến nay, có ít nhất ba cách tiếp cận bài toán này: - Hướng thứ nhất: Phân loại theo số chiéu, cỗ định số chiều của dai số Lie rồi tiến hành phân loại. - Hướng thứ hai: Phân loại theo cấu trúc, mở rộng nội hàm (tính chất) thi 17 ngoại điên (lớp các đại số Lie) hep đi rồi tiến hành phân loại. Theo đó, ta bổ sung thêm tính chất cho đại số Lie rồi phân loại các lớp con của chúng.
- Hướng thứ ba: Tổ hợp của hai cách tiếp cận phân loại ở trên.