CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Đặc điểm của họ Cà Phê Cây Mơ lông có tên khoa học là Paederia Lanuginosa, thuộc họ Cà phê (Rubiceae). Họ Rubiceae thường là loại cây gỗ, cây bụi hoặc nửa bụi, đôi khi là cây thân thảo hay dây leo. Lá mọc đối, luôn có lá kèm với nhiều hình dạng khác nhau.
Hoa thường tập hợp thành cụm hình xim, đôi khi hình đầu, mẫu 5 hoặc 4. Đài và tràng đều hợp, tràng có tiền khai hoa thường vặn. Trong một vài trường hợp số thùy của tràng có thể lên tới 8-10. Số nhị thường bằng với số thùy tràng và nằm xen kẽ giữa các thùy, dính vào ống tràng hoặc họng tràng.
Bộ nhụy gồm hai lá noãn dính nhau thành bầu dưới, hai buồng. Một vòi nhụy mảnh, đầu nhụy hình đầu hay chia hai. Mỗi buồng của bầu chứa một đến nhiều noãn đảo hay thẳng. Quả mọng, hạch hay quả khô (quả mở hoặc quả phân thành những hạch nhỏ).
Hạt thường có phôi thẳng có nội nhũ hoặc đôi khi không có [11], [19]. Trên thế giới, họ Cà phê (Rubiaceae) là một trong năm họ có nhiều loài nhất trong nhóm thực vật có hoa, với khoảng 13.000 nghìn loài, được phân bố trong 620 chi, hơn 40 tông và được chia làm 3 phân họ: Cinchonoideae, Ixoroideae, Rubioideae [19]. Chúng được tìm thấy ở tất cả các lục địa, kể cả Nam Cực, Với một vài loài của chi Coprosma, Galium và Sherardia. Phần lớn được phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Ở Việt Nam, theo các tài liệu đã công bố mới nhất về họ Cà phê cho thấy, họ này có khoảng 93 chi và 450 loài, phân bố rộng khắp cả nước [7], [11]. Vị trí, phân loại của chi Paederia Chi Paederia là một trong những chi thuộc họ Cà phê (Rubiaceae) có mùi mạnh do trong thành phần có chứa chất Methyl Mercaptan. Ở Việt Nam có hai loài thuộc chi này là Paederia Lanuginosa (Mơ lông) và Paederia Foetida (Mơ leo) [11]. Vị trí của chi Paederia trong hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan (1987): [34] Giới thực vật (Planta) [30] Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) SVTH: HUỲNH BÍCH NGÂN 3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS.
ĐÀO HÙNG CƯỜNG Phân lớp Hoa Môi (Lamiidae) Bộ Cà Phê (Rubiales) Họ Cà Phê (Rubiaceae) Chi Paederia 1. Mơ Leo (Paederia Foetida) Phân bố: Cây phân bố ở vùng Ấn Độ - Malaysia. Ở Việt Nam, cây mọc ở lùm bụi và cũng được trồng làm cây dược liệu [9]. Mơ lông (Paederia lanuginosa) Phân bố: Cây được phát hiện ở một số nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc.
Ở nước ta, cây mọc hoang và được trồng vào các mùa xuân, thu ở các bờ rào để làm thuốc hoặc gia vị trong các bữa ăn [9]. Giới thiệu về loài cây mơ lông (Paederia lanuginosa) 1. Khái quát Tên thường gọi: Mơ lông, mơ tam thể, thối địt Tên khác: Ngưu bì đống, rau mơ, mẫu cẩu đắng, ngũ hương đằng Tên khoa học: Paederia Lanuginosa [12] Thuộc họ Cà phê (Rubiaceae) 1. Nguồn gốc Paederia Lanuginosa được tìm thấy ở phương Đông và Nam Á.
Nó là một loài leo thân gỗ nhỏ, nó được tìm thấy trong khu vực từ Ấn Độ, Trung Quốc và quần đảo Philippines. Ở bán đảo Malaysia, nó mọc hoang ở những nơi trống trải, leo trèo trên cây và bụi rậm. Cây ưa ẩm và ánh sáng mặt trời, thích nghi với nhiều loại đất [18]. Nó còn được tìm thấy ở các phần khác nhau của Bangladesh và cả ở Ấn Độ như Assam, Bihar và Orissa.
Đó là một phần khác biệt của ẩm thực Assamese, có vị đắng và mùi hôi. Nó cũng được người Ấn Độ trồng lấy lá để làm gia vị và làm thuốc, lá có thể thu hái quanh năm, thường dùng tươi hay phơi khô [27], [30]. Hiện nay cây Mơ lông mọc hoang và được trồng ở các nước Bangladesh, miền nam Bhtan, Campuchia, Đài Loan và Trung Quốc (Hồng Kong và Ma Cao), và các tỉnh SVTH: HUỲNH BÍCH NGÂN 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƯỜNG phía Bắc của Tây Bengal, đảo Andaman và Nicobar, Nhật Bản, Myanmar, Malaysia, Nepal, Philippines, Sigapore, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam [30].
Ở Việt Nam cây Mơ lông được trồng rộng rãi quanh khắp cả nước. Từ xưa con người đã phát hiện và sử dụng rộng rãi như thực phẩm ăn kèm với thịt, và được dùng để làm các bài thuốc Đông Y chữa một số bệnh như tiêu chảy, đại tràng, sát khuẩn. Phân bố Ở Việt Nam, Mơ lông có thể gặp hầu hết ở các tỉnh (trừ vùng núi cao lạnh, trên 1600m), cây mọc hoang hoặc được trồng để làm thuốc và gia vị. Mơ lông thuộc giống cây khá khỏe, có sức sống mạnh mẽ nên có thể trồng quanh năm nhưng thời điểm tốt nhất để loại cây này phát triển nhanh là vào vụ Đông Xuân.
Và thường được trồng ở các bờ rào, bờ ao có lùm bụi cho leo bằng đoạn dây bánh tẻ chỉ dài từ 30-50 cm [37]. Cây Mơ lông thích hợp cho nhiều loại đất khác nhau, để cây phát triển tốt chỉ cần bón lót với vôi rồi phơi ải từ 15-20 ngày trước trồng để xử lý các mầm bệnh có trong đất. Cây ưa sáng và cần có giá để leo cuốn, khả năng đẻ nhánh khá tốt [39]. Cây Mơ Lông Hình 1.
Đặc điểm thực vật cây Mơ Lông Là dây keo bằng thân quấn, sống nhiều năm. Thân màu xanh lục hoặc màu tím, có nhiều lông cứng màu trắng; tiết diện tròn ở thân già, hơi dẹt ở thân non [11]. Lá đơn, nguyên, mọc đối và có mùi đặc trưng; phiến lá hình tim đỉnh nhọn, dài 9-11 cm, rộng 4-6 cm, mặt trên có màu xanh lục còn mặt dưới có màu tím, có nhiều lông SVTH: HUỲNH BÍCH NGÂN 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƯỜNG cứng màu trắng; gân lá hình lông chim nổi rõ ở mặt dưới, 6 cặp gân phụ đối hoặc gần đối.
Cuống lá dài 2-3 cm, màu xanh, có nhiều lông trắng; 2 lá kèm ở giữa 2 cuống lá, dạng vẩy tam giác hoặc hình tim dài 0.5 cm, màu xanh [9], [11]. Cụm hoa xim hai ngả rất phân nhánh ở nách lá hoặc ngọn cành, dài 10-50 cm, hoa nhỏ và đều, lưỡng tính. Đài hoa hình tam giác nhỏ cao 1 mm, màu xanh hơi tím, có lông trắng, tiền khai vặn. Tràng hoa màu tím mặt ngoài và màu trắng xanh mặt trong, dính nhau ở 2/3 dưới tạo thành ống tràng dài 0.5 cm; phía trên xòe ra 5 phiến dài 0.2 cm có nhiều gai, mặt trong họng tràng có nhiều lông tiết màu tím nhạt, mặt ngoài tràng có nhiều lông màu trắng.
Bộ nhị gồm 5-6 nhị đều, rời, đính ở ống tràng xen kẽ cánh hoa. Chỉ nhị dạng sợi mảnh, màu hồng hoặc tím nhạt, nhẵn bóng. Hạt phấn mở, màu trắng, hình bầu dục. Bộ nhụy gồm bầu dưới và 2 đầu nhụy dạng sợi uốn lượn màu hồng nhạt, có nhiều lông mịn màu trắng [11], [15].
Rễ cây nhỏ và mảnh, thích hợp với nhiều loại đất. Mặt trước và sau của lá Mơ lông Hình 1. Hoa của cây Mơ lông 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài cây Mơ Lông trong và ngoài nước 1.
Trong nước Cây Mơ lông (Mơ Tam thể) là một loài thực vật dây leo dân thảo, có giá trị kinh tế, dinh dưỡng và dược liệu ở nước ta. Ở Việt Nam, ngày nay việc trồng cây Mơ lông càng nhiều phục vụ cho các nhu cầu như thực phẩm, làm cây cảnh. Bên cạnh đó Mơ lông còn thể hiện nhiều đặc tính có giá trị đối với sức khỏe, bao gồm tác dụng chống oxy hóa, sát khuẩn, chữa phong tê, tẩy giun, giải độc và một số bài thuốc chữa lợi tiểu, dạ dày…[9] SVTH: HUỲNH BÍCH NGÂN 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƯỜNG Với nhiều công dụng được nêu trên nên Mơ lông ngày càng được quan tâm và có một số bài nghiên cứu đã tìm ra một số chất có trong Mơ lông như iridod glucosid và các anthraquinon [21], [22], [26].
Trong quá trình nghiên cứu về rễ cây Mơ lông ở Việt Nam, PGS.TS Đặng Ngọc Quang và cộng sự đã tìm được ba hợp chất iridoid glucosid dạng đime (6-8). Đây là những đime đầu tiên được tìm thấy trong chi Paederia. Và bảy hợp chất anthraquinon (9-15) và một coumarin (16) từ rễ cây Mơ Lông của Việt Nam là những hợp chất có hoạt tính kháng sinh mạnh. Theo bài báo cáo nghiên cứu khả năng chống oxy hóa của dịch chiết lá Mơ lông của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế [6].
Lựa chọn nghiên cứu khả năng kháng oxy hóa của dịch chiết bằng phương pháp ferric thiocyanate (FTC). Khả năng kháng oxy hóa được đánh giá thông qua độ hấp thu màu OD ở bước sóng 500 nm. Bước sóng càng cao, khả năng kháng oxy hóa càng thấp. Tiến hành bố trí thí nghiệm (TN) với 2 mẫu, mẫu đối chứng (ĐC) và mẫu thí nghiệm (TN).
Mỗi mẫu chuẩn bị 7 ống nghiệm có bổ sung hỗn hợp sau: Mẫu TN gồm 1 ml dịch chiết lá mơ lông, 1 ml acid oleic 200 mg/ml, 5 ml đệm phosphat 0,04 M, 5 ml EtOH 75%, 2 ml nước cất và giữ ở 45°C, trong bóng tối. Mẫu ĐC tương tự mẫu TN thay 1 ml dịch chiết bằng 1 ml EtOH 75%. Sau mỗi 24 h, lấy ra 1 ml mẫu, thêm 5 ml EtOH 75%, 0,5 ml NH4SCN 30%, 0,5 ml FeCl2 0,02 M trong HCl 3,5% tương ứng. Sau khi mẫu có màu đỏ, độ hấp thu được đo ngay lập tức ở bước sóng 500 nm.
Sử dụng EtOH để hiệu chỉnh máy quang phổ về vạch 0 [6]. Sơ đồ phương pháp FTC SVTH: HUỲNH BÍCH NGÂN 7 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƯỜNG Theo kết quả nghiên cứu thì cả hai mẫu đều tăng trong thời gian thí nghiệm. Tuy nhiên mẫu TN tốc độ tăng chậm hơn.
Giá trị OD cao hay thấp phụ thuộc vào lượng peroxide sinh ra. Gốc Peroxide sinh ra nhiều thì phản ứng với sắt (II) clorua tạo thành ion sắt (III). Ion sắt (III) này sau đó phản ứng với amoni thiocyanate tạo thành ferric thiocynate, làm dung dịch có màu đỏ. Màu của dung dịch càng tối thì lượng peroxide sinh ra càng nhiều.
Như vậy, khả năng kháng oxy hóa càng yếu. Với mẫu TN có bổ sung dịch chiết lá mơ lông cho kết quả giá trị OD thấp hơn [6]. Độ hấp thu theo ngày của dịch chiết lá mơ lông 1. Ngoài nước Trong quá trình nghiên cứu người Nhật đã phát hiện ra vài hợp chất iridoid của cây Mơ lông còn có chứa lưu huỳnh.
Ví dụ như: paederoside, asperuloside và paederosidic acid được tìm thấy trong lá và thân của cây mơ lông ở Nhật Bản [21], [22], [26], [31]. Từ nghiên cứu khoa học của PGS.