MỞ ĐẦU Đối với bất kì quốc gia nào trên thế giới, nƣớc là một tài nguyên vô cùng quý giá và quan trọng. Mặc dù nƣớc chiếm 3/4 diện tích toàn cầu nhƣng lƣợng nƣớc sử dụng cho sinh hoạt lại rất ít và có nguy cơ thiếu nƣớc trong tƣơng lai không xa. Hơn nữa, hiện nay nguồn nƣớc đang bị ô nhiễm bởi những nguyên tố có hại nhƣ sắt, mangan, chì, asen, flo… Riêng đối với flo, nồng độ của nó trong nƣớc có thể có lợi hoặc bất lợi cho sức khỏe con ngƣời. Ở nồng độ thấp flo là cần thiết để chống loãng xƣơng và sâu răng.
Nhƣng nếu nồng độ cao sẽ gây bệnh răng và xƣơng nhiễm flo. Nhiều địa phƣơng ở nƣớc ta có hàm lƣợng flo trong nƣớc ngầm vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép đã gây tác động xấu đến sức khỏe ngƣời dân. Vì vậy, nghiên cứu nhằm loại bỏ ion này đang đƣợc các nhà khoa học quan tâm. Ta biết rằng bentonite là loại vật liệu có nhiều ứng dụng rộng rãi trong , xây dựng dân dụ , nông nghiệp, mỹ phẩ.
Đặc biệt, bentonite là một vật liệu có một cấu trúc lớp và diện tích bề mặt lớn. Do vậy, khả năng hấp phụ rất tốt. Với mong muốn tạo ra những vật liệu có khả năng hấp phụ cao, đặc biệt với đối tƣợng ô nhiễm là florua, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ xử lý florua trong nƣớc từ sét bentonite tự nhiên”. 1 Trần Thái Dương – MT1201 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khoa Môi Trường CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN 1.
Tính chất của flo Flo là nguyên tố halogen thể khí nhẹ nhất và hoạt động nhất của nhóm VII trong bảng tuần hoàn. Số nguyên tử = 9, nguyên tử khối = 18,99840, hóa trị I, không có các đồng vị bền khác, là nguyên tố có độ âm điện cao nhất và là tác nhân oxi hóa mạnh nhất đƣợc biết. Khí F2 màu vàng nhạt, mùi hăng xốc, ts -1880C, tđđ -2190C, phản ứng mãnh liệt với hầu hết các chất có khả năng oxi hóa đƣợc ở nhiệt độ phòng, thƣờng với sự đánh lừa, tạo florua với tất cả các nguyên tố, trừ heli, neon và acgon [6,8]. Nguồn gốc xuất hiện của flo Trong tự nhiên flo gặp chủ yếu ở dạng ion florua hóa trị I, là thành phần của các khoáng nhƣ floapatit [(Ca10F2)PO4)6], criolit (Na3AlF6) và flospar (CaF2).
Nó là một thành phần chung của đất, trung bình 200 mg/l.kg trên toàn thế giới. Florua cũng có trong nƣớc tự nhiên, trung bình khoảng 0,2 mg/l (Châu Âu và Bắc Mĩ), trong nƣớc biển nồng độ florua vào khoảng 1,2 mg/l. Tính chung flo là nguyên tố có độ giàu thứ mƣời ba trên trái đất, chiếm 0,03% khối lƣợng vỏ trái đất [8]. Flo đƣợc thải vào môi trƣờng từ nhiều nguồn khác nhau.
Khí florua (phần lớn là HF) đƣợc phát ra qua hoạt động của núi lửa và bởi một số ngành công nghiệp khác nhau. Florua ở dạng khí và dạng hạt là sản phẩm phụ của việc đốt than (than chứa 10 ÷ 480 mg flo/kg than, trung bình 80 mg/kg) và đƣợc giải phóng ra trong quá trình sản xuất thép và luyện các kim loại không chứa sắt. Sản xuất nhôm bao gồm việc sử dụng criolit, flospar và nhôm florua thƣờng là nguồn florua chủ yếu trong môi trƣờng. Các khoáng có chứa florua thƣờng cũng là vật liệu thô cho thủy tinh, gốm sứ, xi măng, phân bón [8, 9].
Chẳng hạn, sản xuất phân photphat bằng việc axit hóa quặng apatit với axit sunfuric giải phóng ra hidro florua theo phƣơng trình sau đây là một ví dụ minh họa: 3[Ca3(PO4)2]CaF2 + 7H2SO4 → 3[Ca(H2PO4)2] + 7Ca SO4 + 2HF 2 Trần Thái Dương – MT1201 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khoa Môi Trường Ngoài ra sự phong hóa các đá và khoáng vật chứa flo đã giải phóng flo vào nƣớc ngầm, nƣớc sông, nƣớc suối, làm tăng dần hàm lƣợng florua trong nƣớc. Ở những vùng có khoáng hóa florit thì hàm lƣợng flo trong nƣớc có thể cao hơn. Nƣớc ngầm khi vận động có thể mang theo sự ô nhiễm flo đi xa nguồn với khoảng cách khá lớn [8, 9, 18]. Trên thực tế có nhiều khu vực có các nguồn nƣớc tự nhiên nhiễm flo khá cao nhƣ ở một số vùng của Ấn Độ, Trung Quốc, Bănglađet… Ở Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định và nhiều nơi nƣớc ta có những khu vực mà hầu hết các nguồn nƣớc chứa hàm lƣợng florua từ 3 – 4 mg/l, thậm chí có những giếng lên tới 9 mg/l.
Trong khi tiêu chuẩn đối với nƣớc sinh hoạt, nƣớc mặt là nồng độ florua = 0,7 – 1,5 mg/l (TCVN, 1995) [8,9]. Độc tính của florua Florua có các ảnh hƣởng bệnh lí học lên các sinh vật: thực vật, động vật và con ngƣời [8] Thực vật: florua gây ra sự phá hủy một diện rộng mùa màng. Nó chủ yếu đƣợc tập trung bởi thực vật ở dạng khí (HF) qua khí khổng của lá, hòa tan vào pha nƣớc của các lỗ cận khí khổng và đƣợc vận chuyển ở dạng ion theo dòng thoát hơi nƣớc đến các đỉnh lá và các mép lá. Một số đi vào các tế bào lá và tích tụ ở bên trong các bào quan của tế bào.
Các ảnh hƣởng của florua đến thực vật rất phức tạp vì liên quan với rất nhiều phản ứng sinh hóa. Các triệu chứng thƣơng tổn chung là sự gây vàng đỉnh và mép lá và cháy lá và làm giảm sự sinh trƣởng phát triển của thực vật cùng với sự nảy mầm của hạt. Một trong những biểu hiện sớm gây ảnh hƣởng xấu đến thực vật của florua là sự mất clorophin, điều này liên quan đến sự phá hủy các lục lạp, ức chế sự quang tổng hợp. Florua cũng có ảnh hƣởng trực tiếp tới các enzim liên quan đến sự glico phân, hô hấp và trao đổi chất của lipit và tổng hợp protein (photphoglucomutara, piruvat kinaza, sucxinic dehidrogenaza, pirophotphataza, và ATPaza ti thể).
Tất cả những tác hại đó sẽ khiến mùa màng bị thất thu. Động vật: nồng độ florua thấp là một thành phần thiết yếu cho quá trình khoáng hóa bình thƣờng của xƣơng và hình thành men răng, nó làm cho 3 Trần Thái Dương – MT1201 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khoa Môi Trường men răng tƣơng đối miễn dịch vói sự tấn công của vi khuẩn. Tuy nhiên, uống quá nhiều florua gây ra xƣơng và răng nhiễm flo [8, 9, 14, 16]. Sự ô nhiễm không khí có chứa florua có khả năng gây ra sự phá hủy rộng lớn hơn đối với vật nuôi ở các nƣớc công nghiệp phát triển so với bất kì các chất ô nhiễm nào khác.
Các triệu chứng ảnh hƣởng thấy rõ là: sự vôi hóa khác thƣờng của xƣơng và răng; bộ dạng cứng nhắc, thân mảnh, lông xù, giảm cho sữa, giảm cân… [8]. Con ngƣời: Bệnh nhiễm flo nghề nghiệp đã đƣợc chẩn đoán ở các xí nghiêp luyện nhôm và phân bón photphat, mức nhiễm flo xƣơng đạt tới 2,0 mg/kg [8]. Do lƣợng florua quá mức, men răng mất đi độ bóng của nó. Florua chủ yếu đƣợc tích lũy ở các khớp cổ, đầu gối, xƣơng chậu và xƣơng vai, gây khó khăn khi di chuyển hoặc đi bộ.
Các triệu chứng của xƣơng nhiễm flo tƣơng tự nhƣ cột sống dính khớp hoặc viêm khớp, xƣơng sống bị dính lại với nhau và cuối cùng bệnh nhân có thể bị tê liệt. Nó thậm chí có thể dẫn đến ung thƣ và cuối cùng là cột sống lớn, khớp lớn, cơ bắp và hệ thần kinh bị tổn hại. Bên cạnh đó tiêu thụ quá nhiều florua có thể dẫn đến các tác hại nhƣ: thoái hóa sợi cơ, nồng độ hemoglobin thấp, dị dạng hồng cầu, nhức đầu, phát ban da, thần kinh căng thẳng, trầm cảm, các vấn đề về tiêu hóa và đƣờng tiết liệu, ngứa ran ở ngón tay và ngón chân, giảm khả năng miễn dịch, xảy thai, phá hủy các enzim … [14, 16, 17, 18]. Các phƣơng pháp xử lý florua 1.
Phương pháp hấp phụ Khi so sánh những công nghệ xử lý ô nhiễm florua trong nƣớc thì hấp phụ là biện pháp đƣợc lựa chọn mang tính khả thi nhất tại các khu vực nông thôn [14] Một số chất hấp phụ hay đƣợc sử dụng để lại bỏ florua là: Nhôm hoạt tính: có độ xốp cao và diện tích bề mặt lớn. Mạng tinh thể của nhôm oxit hoạt tính có những vị trí khuyết tật, làm phát sinh các khu vực cục bộ mang điện tích dƣơng. Điều này dẫn đến khả khả năng hấp phụ các anion, đặc biệt là florua. Nhôm oxit hoạt tính là một vật liệu hấp phụ 4 Trần Thái Dương – MT1201 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khoa Môi Trường phổ biến vì nó không bị biến dạng, cũng không tan trong nƣớc.
Tuy nhiên nó có hạn chế ở chỗ chỉ hoạt động hiệu quả trong một phạm vi pH nhất định (pH = 5 – 7), và hiệu quả giảm khi TDS (tổng chất rắn không tan) lớn hơn 1500 mg/l [14]. Bùn đỏ: với diện tích bề mặt cao (khoảng 10m2/g), bùn đỏ là một vật liệu khá tốt. Nó có thành phần chủ yếu là oxit sắt và một số khoáng vật. Vật liệu này rất sẵn có và khi đƣợc biến tính sẽ cho đƣợc hiệu suất hấp phụ cao hơn ban đầu.
Nhƣợc điểm là quá trình hấp phụ chỉ hiệu quả ở khoảng pH hẹp và thấp, pH cao hơn 5,5 thì hiệu suất hấp phụ sẽ giảm. Đồng thời bị ảnh hƣởng bởi các ion cạnh tranh với F- nhƣ: CO32-, SO42-, PO43- … [14]. Phương pháp hóa học sử dụng magie oxit Cơ chế của phƣơng pháp này nhƣ sau: Nƣớc hidrat hóa MgO thành Mg(OH)2 theo phản ứng: MgO + H2O = Mg(OH)2 Mg(OH)2 tạo thành kết hợp với các ion florua để tạo thành MgF2 hầu nhƣ không tan: 2NaF + Mg(OH)2 = MgF2 + 2NaOH Ƣu điểm của phƣơng pháp này là: Do bản chất giống xi măng của magie oxit khi kết hợp với vôi (CaO) tạo ra một biện pháp an toàn để tái sử dụng bùn thải chứa MgO và MgF2 trong các vật liệu xây dựng, chẳng hạn nhƣ bê tông, gạch… [14]. Bên cạnh đó phƣơng pháp này cũng có nhƣợc điểm là: Chi phi khá tốn kém.
Phương pháp keo tụ Gồm các bƣớc: khuấy trộn, keo tụ, lắng, lọc và khử trùng. Nhƣ vậy cần sự bổ sung thêm các hóa chất là phèn (nhôm sunfat), vôi (canxi oxit) và nƣớc Javen. Lƣợng muối nhôm cần thiết tăng lên khi nồng độ florua và độ kiềm trong nƣớc tăng. 5 Trần Thái Dương – MT1201 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khoa Môi Trường Phƣơng pháp này có hiệu quả ngay cả khi nồng độ florua cao (hơn 20 mg/l) và nƣớc có môi trƣờng kiềm.