CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN 1. Đặc điểm của bê tông đầm lăn Bê tông đầm lăn (BTĐL) là loại bê tông sử dụng các nguyên liệu tương tự như bê tông thường. Khác với bê tông thường được đầm chặt bằng thiết bị rung đưa vào trong lòng khối đổ, bê tông đầm lăn là loại bê tông có độ cứng, thi công đầm chặt bằng các thiết bị rung lèn từ mặt ngoài (lu rung). Công nghệ này phù hợp cho các công trình bê tông khối lớn như làm đập, mặt đường.
Việc đầm lèn bê tông bằng lu rung cho phép sử dụng hỗn hợp bê tông khô, ít chất kết dính hơn bê tông thường nhờ vậy đối với một số đập và đường bê tông thi công bằng công nghệ này nhanh hơn và rẻ hơn so với công nghệ đổ bê tông truyền thống. Công nghệ BTĐL thường được áp dụng thích hợp cho thi công đập bê tông trọng lực và mặt đường, sân bãi. Công nghệ bê tông đầm lăn áp dụng cho thi công đường giao thông so với công nghệ thi công thông thường có các ưu điểm sau: - Phương pháp thi công không phức tạp, tương tự như thi công asphalt, lớp mặt đường sử dụng BTĐL (mặt đường BTĐL) được xây dựng không cần hoặc rất ít các khe nối, không cần phải có ván khuôn, máy rải chuyên dụng và các loại thanh truyền lực. Do có các tính năng ưu việt như vậy nên việc xây dựng mặt đường bằng BTĐL rất đơn giản.
- Tốc độ thi công nhanh, đặc biệt so với thi công bằng công nghệ bê tông thông thường. Có thể sử dụng vật liệu khai thác tại chỗ của địa phương; - Lượng dùng xi măng thấp, có thể sử dụng một số sản phẩm phụ hoặc phế thải công nghiệp giúp hạ giá thành vật liệu so với bê tông xi măng thông thường; - Có khả năng chịu nước cao hơn asphalt. Lịch sử ra đời của bê tông đầm lăn và các ứng dụng công nghệ bê tông đầm lăn ở một số nước trên thế giới. Mặc dù công nghệ BTĐL được áp dụng rất sớm từ những năm 1960 để xây dựng đập Aipe Gera (Italia), đê quai Thạch Môn (Đài Loan), đập Manicogan (Canada), Hochiti (Mexico) và ở nhiều nước khác, nhưng cho đến năm 1970 tại hội 6 nghị về “xây dựng nhanh các đập bê tông”, việc xây dựng đập bê tông trọng lực bằng công nghệ BTĐL mới chính thức được giáo sư Jermo Raphael (Trường Đại học California – Bekerley Mỹ) trình bày trong bản tham luận “Đập trọng lực tối ưu”.
Vì vậy các tài liệu của Hiệp hội bê tông Mỹ (ACI) khi sắp xếp lịch sử phát triển công nghệ bê tông khối lớn đã chọn mốc này làm khởi đầu cho công nghệ BTĐL. Trong những năm từ 1960 đến 1970, một vài công trình đã được các kỹ sư kết cấu và địa chất công trình thiết kế với ý tưởng độc đáo là kết hợp những ưu điểm của đập bê tông và đập đất đắp. Một ví dụ điển hình là đập Aipe Gera (Italia) cao 172m, do kỹ sư kết cấu Giulio Gentile thiết kế đã hoàn thành năm 1964. So với đập bê tông truyền thống được làm hoàn toàn bằng bê tông thì đập này được xây dựng với giá rẻ hơn.
Sự giảm giá thành đã đạt được là do giảm được lượng dùng xi măng trong bê tông cho lõi đập nơi có đòi hỏi thấp hơn về cường độ và độ bền. Một sự kết hợp giữa công nghệ bê tông truyền thống và công nghệ BTĐL đã được các nhà thiết kế đập bê tông ở Quebec Montreal (Canada) phát triển và áp dụng. Trong công trình này, bê tông khối lớn cho lõi đập được đổ và san bằng xe ủi và được đầm lèn bằng lu rung. Tường cánh đập phía thượng lưu được đổ bằng bê tông thường có lượng dùng xi măng lớn và thi công bằng cốp pha trượt theo phương đứng.
Các mạch ngừng thi công tường (có sử dụng băng chặn nước) được đặt cách nhau 15m. Tường cánh đập phía hạ lưu được thi công bằng công nghệ thi công đúc sẵn. Với cách làm này, việc thi công đập Quebec đã giảm được khoảng 20% giá thành và giảm thời gian thi công từ 2 đến 3 lần so với thi công bằng công nghệ bê tông thường. Từ năm 1971 đến năm 1977 ở Anh người ta bắt đầu triển khai nghiên cứu BTĐL trong các phòng thí nghiệm của Trường Đại học Newcastle.
Trong những năm cuối của thập kỷ 70, Hiệp hội nghiên cứu và Thông tin Công nghiệp xây dựng đã tiến hành dự án nghiên cứu rộng về BTĐL có sử dụng tro bay với hàm lượng lớn. Dự án này do Ban quản lý nước miền Tây Nam – Anh thực hiện. Ngoài việc tiến hành thí nghiệm trong các phòng nghiên cứu, các thử nghiệm thực tế đã được tiến hành ở trạm xử lý nước Tamara – Coruwall vào năm 1976 và việc thử nghiệm 7 với quy mô lớn đã được tiến hành ở công trình đập Wimbleball vào năm 1979. Tuy công việc này đã không đưa đến kết quả triển khai ứng dụng rộng rãi BTĐL vào các đập lớn khác ở Anh nhưng ý tưởng sử dụng công nghệ BTĐL với một hàm lượng lớn tro bay đã được Tổng Cục khai hoang Mỹ (United State Bureau of Recramation – USBR) sử dụng làm cơ sở cho việc thiết kế và thi công đập Upper StillWater trên nhánh sông Rock – bang Utah.
Đập này được thi công vào năm 1987 với chiều cao 90m dài 815m, Khối tích bê tông khoảng 1.000m3 Năm 1972 ở Mỹ, Canyon đã đưa ra kết quả thí nghiệm bê tông nghèo xi măng sử dụng cốt liệu có cấp phối cố định, vận chuyển bằng ôtô tự đổ, san gạt bằng xe ủi và đầm bằng lu rung ở đập Tim Fost. Sau đó Hiệp hội các kỹ sư quân sự Mỹ (USACE) đã thi công các lô bê tông thí nghiệm hiện trường ở Jackson – Missisipi và đập Lost Creaker – Oregon trong khoảng năm 1972 – 1973. Năm 1980, lần đầu tiên ở Mỹ sử dụng BTĐL để xây dựng đập Willow Creek trên nhánh sông Willow bang Oregon với chiều cao 52m, chiều dài 543m, khối tích BTĐL 331. Năm 1988 đập Elk Creek được xây dựng trên nhánh sông Elk bang Orogon với chiều cao 76m, chiều dài 786m với khối tích BTĐL là 1.
Đến nay đã có hàng chục công trình đập bê tông lớn được xây dựng ở Mỹ bằng công nghệ BTĐL. Năm 1974 các kỹ sư Nhật Bản cũng đã bắt đầu nghiên cứu sử dụng BTĐL với mục đích rút ngắn thời gian thi công và hạ giá thành công trình đập. Trong những năm thập kỷ 80, hàng loạt các công trình BTĐL đã được xây dựng như đập Tamagawa trên sông Tama tỉnh Akita. Đập này cao 100m dài 442m.
Tính đến cuối năm 1992, ở Nhật đã có 30 đập BTĐL đã được thi công. Nhật Bản cũng đã xây dựng và hoàn thiện phương pháp tổng hợp thiết kế mặt cắt đập, tính toán thành phần bê tông, công nghệ thi công và khống chế nhiệt độ bê tông đập. Phương pháp này thường được gọi là phương pháp RCD (Roller – Compacted Dams) Ở Tây Ban Nha đập Santa Eugenia xây dựng trên sông Xallas năm 1988 cao 85m dài 285m cũng được sử dụng với BTĐL với khối tích là 319. Ngoài ra Tây Ban Nha còn xây dựng nhiều đập khác ứng dụng công nghệ BTĐL như đập Castiblanco de los Arryos, Los morales.
8 Ở Pháp công nghệ BTĐL được ứng dụng khi xây dựng đập Les Olli vertest. Đập này cao 36m, dài 225m sử dụng khoảng 80. Năm 1975, ở Pakistan BTĐL đã được sử dụng để sửa chữa đập Tarbela. Kỷ lục thế giới về tốc độ đổ bê tông đã được lập ở công trình này, với tốc độ trung bình 9.
Đến năm 1980 công trình này đã được hoàn thành với tổng khối lượng đổ BTĐL lên tới 2. Liên Xô (cũ) cũng bắt đầu việc nghiên cứu bê tông khô ít xi măng cho các đập trọng lực từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ trước. Công nghệ này được bắt đầu ở Viện nghiên cứu khoa học thuỷ công vào năm 1975. Năm 1979 – 1980 các kỹ sư Liên Xô đã tiến hành đổ thực nghiệm một số bloc loại bê tông trên tại đập nhà máy thuỷ điện Crupxkai.
Sau đó BTĐL chính thức sử dụng ở nước này trên công trình đập thuỷ điện Taskumirr xây dựng trên sông Narin vào năm 1984 cao 75m, dài 320m, khối lượng BTĐL là 85. Công trình đập BTĐL này đã được hoàn thành vào năm 1988. Sau đó một loạt các đập thuỷ điện khác như Burexop, Cuvinsko lần lượt được xây dựng vào các năm tiếp theo bằng công nghệ BTĐL.[7] Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu công nghệ BTĐL. Năm 1980- 1981 tại tỉnh Tứ Xuyên, đường bê tông của nhà máy thủy điện Long Nhai đã tiến hành thí nghiệm Bê tông đầm lăn taị hiện trường.
Năm 1983, tại Hạ Môn tỉnh Phúc Kiến đã tiến hành thí nghiệm hiện trường BTĐL. Năm 1984-1985, Bê tông đầm lăn đã chính thức được dùng để xây dựng đê quai và tường cửa lấy nước của nhà máy thủy điện Cát Khê Khẩu. Năm 1985, phần giáp nền của tường âu thuyền đập Cát Châu trên sông Trường Giang cũng đã tiến hành thí nghiệm 2 lần đầm nén hiện trường. Sau đó đập Đồng Nhai Tử và đập phụ của Nhà máy Thủy điện Ngưu Nhật Khê cũng đã sử dụng BTĐL.
Tháng 5 năm 1985, Tại Trung Quốc đập BTĐL đầu tiên đã xây dựng thành công là đập Keng Khẩu tại huyện Đại Điền, tỉnh Phúc Kiến, Tính đến năm 2005, Trung Quốc đã, đang xây dựng và thiết kế tổng cộng là 125 đập BTĐL, trong đó có 98 đập trọng lực, 27 đập vòm bằng BTĐL (có 26 đập cao trên 100m, trong đó 19 đập trọng lực và 7 đập vòm); đập cao nhất thế giới là đập Long Than (cao 216,5m). Mặc dù có áp dụng công nghệ BTĐL tương đối muộn 9 nhưng Trung Quốc lại là nước có tốc dộ phát triển công nghệ này rất nhanh. Trong gần 20 năm đã có trên 50 đập BTĐL được xây dựng do Trung Quốc tự thiết kế và thi công. Năm 1986 đập bê tông đầu tiên chính thức được thi công là đập thuỷ điện Khanh Khẩu tại tỉnh Phúc Kiến.
Sau đó, năm 1988, công trình thuỷ điện Diệp Thán với công suất 1210MW được khởi công xây dựng. Ban đầu tường đập vây cao 52m, dài 342m, được thiết kế bằng bê tông đổ theo công nghệ truyền thống nhưng thực tế đòi hỏi phải thi công tường đập này trong 5 tháng để tránh lũ. Công nghệ bê tông thông thường với tốc độ đổ dâng cao 10m/tháng đòi hỏi phải mất hơn 5 tháng mới hoàn thành nên không đáp ứng được tiến độ đảm bảo xây dựng an toàn móng công trình trong mùa lũ năm sau.