Chương 1: Khái quát về châu Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn. Chương 2: Ruộng đất và kinh tế châu Văn Quan nửa đầu thế kỷ XIX. Chương 3: Văn hóa châu Văn Quan nửa đầu thế kỷ XIX. 6 7 (Nguồn: Địa chí Lạng Sơn) BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH LẠNG SƠN (Nguồn: Địa chí Lạng Sơn) 8 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ CHÂU VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN 1.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Châu Văn Quan (nay là huyện Văn Quan) cách tỉnh lỵ Lạng Sơn 45km về phía Tây Nam, trên trục đường quốc lộ 1B từ Lạng Sơn đi Thái Nguyên, có địa giới phía Bắc giáp huyện Văn Lãng, nam giáp huyện Chi Lăng và Hữu Lũng, đông giáp huyện Cao Lộc, tây giáp huyện Bình Gia và Bắc Sơn. Đó là khu vực giới hạn từ vĩ tuyến 21044 đến 210 vĩ Bắc và 106024 đến 106043 kinh Đông. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Huyện Văn Quan thuộc tỉnh Lạng Sơn, cách phủ 41 dặm về phía Bắc, đông tây cách nhau 53 dặm, nam bắc cách nhau 131 dặm, phía đông đến địa giới châu Văn Uyên 25 dặm, phía tây đến địa giới huyện Vũ Nhai tỉnh Thái Nguyên 28 dặm, phía nam đến địa giới châu Ôn và huyện Hữu Lũng, tỉnh Bắc Ninh 52 dặm, phía Bắc đến địa giới các huyện Thoát Lãng và Thất Khê và địa giới huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng 79 dặm. Xưa là châu Yên Lan (theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi), thời thuộc Minh là đất huyện Bôi Lan thuộc châu Thượng Văn.
Đầu đời Lê là châu Văn Lan. Phiên thần (không rõ họ) thế tập. Đời Gia Long đổi thành châu Văn Quan, vẫn cho phiên thần thế tập. Đầu đời Minh Mệnh đổi đặt thổ mục làm phó tri châu, sau lại lấy thổ tri châu.
Năm thứ 15 đổi làm huyện. Năm thứ 16 bắt đầu đặt lưu quan. Lãnh 9 tổng, 56 xã phố” [32, tr. Sau này, Sách Đồng Khánh địa dư chí miêu tả chi tiết về vị trí xưa của châu Văn Quan: “Huyện hạt phía Nam giáp huyện Võ Nhai tỉnh Thái nguyên và huyện Hữu Lũng tỉnh Bắc Ninh.
Phía Bắc giáp huyện Thất Khê và châu Thoát Lãng. Phía Đông giáp châu Ôn và châu Văn Uyên. Phía Tây giáp châu Văn Uyên và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. Từ địa giới phía Đông ở các xã Khâu Mông, Phồn Mậu đến địa giới phía Tây ở xã Phụng Cống đi đường hết chừng 2 ngày rưỡi.
Từ địa giới phía nam ở xã Huân Phong đến địa giới phía bắc xã Hội Hoan, đi đường hết chừng 1 ngày rưỡi” [49, tr. Tổng diện tích Văn Quan hiện nay là 557,46km2. Về cơ bản Văn Quan là một huyện vùng cao, địa hình phức tạp, núi đất và núi đá vôi xen kẽ, có nhiều thung lũng thuận tiện cho việc làm ruộng và nương rẫy. Địa hình có độ cao trung bình 400m so với mực nước biển, thấp dần từ Tây Nam xuống Đông Bắc.
Núi đá chủ yếu tập trung ở phía tây nam của huyện, thuộc các xã Bình Phúc, Yên Phúc, Xuân Mai, Tràng Phái, Lương Năng, Tri Lễ, Hữu Lễ, Tú Xuyên. Các xã còn lại chủ yếu là núi đất. 9 Văn Quan thuộc vùng núi trung bình của tỉnh Lạng Sơn, có độ cao trung bình khoảng 400m so với mực nước biển. Địa hình tương đối phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi đá, núi đất xen kẽ các thung lũng nhỏ và nghiêng theo hướng Tây Nam - Đông Bắc.
Điểm cao nhất của huyện là đỉnh núi Khau Phai. Địa thế hiểm trở được tạo ra bởi những dãy núi đá vôi dốc đứng, hang động và khe suối ngang dọc gây khó khăn đến quá trình sản xuất và đi lại của nhân dân trong huyện, nhưng đó cũng là một trong những điều kiện thuận lợi trong phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Địa hình vùng núi đá bị cắt xẻ vô định hình, được hình thành chủ yếu vào kỷ Đêvôn Pécmi. Quá trình xâm thực đã tạo ra các hang động cácxtơ và đất cácxtơ hóa.
Trong các thung lũng đá vôi trồng trọt rất tốt như Lùng Thúm, Lùng Cà, Lùng Yên, Lùng Tàu, Lùng Hàng, Lùng Khoọc, … Các vùng đất bị chia cắt bởi những khe rạch có nước, những con suối và sông. Dọc thung lũng và khe lạch cũng như những triền núi đất là đất lateritich hóa của núi trẻ được hình thành từ kỷ đệ tứ chủ yếu trên thềm đá bazan, rất tốt cho trồng trọt và phát triển cây lấy gỗ, cây công nghiệp dài ngày, chủ yếu là hồi và các loại cây ăn quả. Có những thung lũng rộng được nông dân khai phát thành ruộng lúa như cánh đồng Bình Phúc, Yên Phúc, Vân Mộng, Trấn Ninh, Tân Đoàn, Tràng Phái. Ngoài ra là ruộng bậc thang và nương rẫy được nhân dân trồng trọt quanh năm.
Xen kẽ giữa vùng núi đất là những đỉnh núi cao, đỉnh cao nhất là đỉnh núi Khau Phai cao 868m, Khau Ràng cao 768m, tiếp đến là đỉnh Khau Nham thuộc địa phận các xã Bác La, Tịnh Sóc, Huân Phong; sao đó là các đỉnh Khau Diêu, Khau Đăng, Khau Thán,… Chính vì địa hình phức tạp nên việc đi lại rất khó khăn, thường phải vượt nhiều suối, lắm đèo như Lùng Pa, Hin Lăn, Kéo Đeng, Cầu Tập, Kéo Cáy,… Ở Văn Quan, rừng chiếm 38,773 ha, bằng 71,2% tổng diện tích toàn huyện, cung cấp cho cư dân địa phương nhiều lâm sản quý. Có hai loại rừng, rừng núi đất và rừng núi đá. Thảm thực vật điển hình của miền nhiệt đới và Á nhiệt đới, có nhiều loại gỗ quý: đinh, nghiến, lý, lát,… Cây Á nhiệt đới có thông lá kim, thông tre, hoàng đàn và rất nhiều loại cây rừng khác nhau; các loại tre, mây, song và cây lấy sợi. Nhiều loại cây ăn quả và cây thuốc chữa một số bệnh.
Trong rừng còn có nhiều loại động vật quý như: các loại thú hươu, nai, hổ, cáo, cầy, lợn lòi, khỉ. Các loại chim: trĩ, gà gô, bìm bịp, cút, phượng hoàng đất. Các loại bò sát: trăn, rắn, kỳ đà, thằn lằn, … Thủy văn – sông ngòi: Văn Quan có hai con sông chảy qua là sông Kỳ Cùng và sông Thà Lải. 10 Sông Kỳ Cùng, có chiều dài 35 km.
Sông này bắt nguồn từ xã Bát Xa cao 1.166m thuộc huyện Đình Lập, chảy qua huyện Cao Lộc, qua thị xã Lạng Sơn vào địa phận huyện Văn Quan qua 5 xã: Đồng Giáp, Khánh Khê, Văn An, Song Giang, Trấn Ninh, từ đó qua huyện Văn Lãng, Tràng Định đổ sang Trung Quốc. Từ Nà Kiểng đến Điềm He sông chảy theo hướng Đông Tây. Từ Điềm He sông chảy đến hết ranh giới huyện, sông chảy theo hướng Nam Bắc. Đây là con sông lớn chảy dọc theo ranh giới tự nhiên giữa huyện Văn Quan và huyện Cao Lộc.
Chi lưu của sông Kỳ Cùng ở Văn Quan là sông Tu Đồn (bản đồ ghi là Mỏ Phia hoặc Mỏ Pia). Sông Tu Đồn có hai nhánh chính: một nhánh bắt nguồn từ các xã Tri Lễ, Lương Năng, Tú Xuyên và một phần của xã Hòa Bình; một nhánh bắt nguồn từ xã Yên Phúc, Bình Phúc rồi hợp lưu ở Đức Hinh chảy qua Bản Lải xã Vĩnh Lại (còn gọi là Tả Lải – Sông Lải) rồi đổ vào sông Kỳ Cùng ở địa phận xã Song Giang. Ngoài ra, còn một hệ thống khe suối ở khắp các xã như suối Việt Yên, Đồng Giáp, Tràng Các, Tràng Sơn, Đại An, Chu Túc – Văn An, Tân Đoàn – Tràng Phái, … đều là nguồn cung cấp nước quan trọng, phục vụ cho đời sống và phát triển nông lâm nghiệp, nhưng lượng nước ít và thường khô cạn về mùa đông. Chế độ dòng chảy của sông biến động rất lớn về mùa mưa, các cơn lũ thường xuất hiện vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8.
Nhưng nhìn chung lũ trên sông Kỳ Cùng có thể xuất hiện vào bất cứ lúc nào tùy theo lượng mưa mà mức độ lớn bé của lũ xảy ra khác nhau. Về mùa khô, dòng chảy nhỏ và lưu lượng bé nhất xuất hiện vào tháng 12, tháng 1. Nhiều đoạn lòng sông hẹp, nông, người và gia súc dễ dàng vượt qua. Sông Thà Lải: bắt nguồn từ vùng núi phía nam của huyện ở độ cao 523m, chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc qua các xã Tri Lễ, Lương Năng, Xuân Mai, Vĩnh Lại, Song Giang và hợp lưu với sông Kỳ Cùng ở Pắc Làng với chiều dài khoảng 50km.
Sông Thà Lải uốn khúc quanh co trong các thung lũng hẹp, xen kẽ vùng núi đất, đá. Ngoài ra còn có một hệ thống sông suối nhỏ khác chảy theo hướng Nam Bắc bắt nguồn từ xã Ên Phúc chảy qua xã Bình Phúc lên xã Xuân Mai gặp sông Thà Lải ở thị trấn Văn Quan. Ở các xã Vân Mộng, Việt Yên, Tân Đoàn… cũng có một mạng lưới khe suối nhỏ, kiệt nước về mùa khô, chảy len lỏi trong các khe đá, thung lũng nhỏ và vùng núi nhấp nhô. Mật độ khe suối của Văn Quan khoảng 0,6 đến 1,2km/km2.
Nhưng do địa hình phức tạp, dòng chảy nhỏ và biến động lớn nên hiệu ích sử dụng nước, lũ lụt, hạn hán đã gây những tác hại thường xuyên và cục bộ ở mức độ khác nhau của từng vùng. Hệ thống hồ đập, dự trữ nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp như: đập Bản Quyền, hồ Bản Nầng, hồ Suối Mơ…là nguồn nước chủ yếu cung cấp nước cho sản 11 xuất nông nghiệp. Ngoài ra, còn có một số hồ đập chứa nước nhỏ được xây dựng trên các khe suối. Do có hệ thống sông suối, hồ đập phân bố khá đồng đều nên thuận lợi cho công tác thủy lợi.
Văn Quan là châu - huyện miền núi, có địa hình phức tạp, không thuận lợi cho phát triển mạng lưới giao thông: sách Đồng Khánh địa dư chí ghi chép về tình hình giao thông của châu Văn Quan như sau: “Một đường nhỏ đi từ đông bắc huyện qua các tổng Chu Túc, Tú Xuyên, Huân Phong, Bình Gia, Cam Thủy đến giáp giới huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, đi hết khoảng 2 ngày rưỡi. Một đường nhỏ đi từ huyện lỵ đi về phía tây bắc, rồi chuyển về phía đông nam qua tổng Quang Bí châu Văn Uyên, đi đến các xã Hữu Đễ, Cử Xá đến giáp địa giới châu Ôn phủ Tràng Khánh, đi hết khoảng nửa ngày. Một đường nhỏ từ huyện lỵ đi về phía tây nam đến xã Cam Thủy, qua các xã Định Bảo, Vân Mạc, đến giáp giới huyện Thất Khê, đi hết khoảng 2 ngày” [49, tr. Các tuyến đường này giữ vai trò quan trọng trong việc thông thương đi lại của cư dân Văn Quan cũng như trao đổi buôn bán hàng hóa, tiếp xúc và giao lưu văn hóa của cư dân địa phương với các địa phương lân cận.
Tuy nhiên các tuyến đường này đều là đường đất nhỏ hẹp.