Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về phương pháp gia công tốc độ cao Chương 3: Cơ sở lý thuyết Chương 4: Xây dựng mô hình thực nghiệm và thực nghiệm Chương 5: Kết luận và kiến nghị 4 Luan van Chương 2 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIA CÔNG TỐC ĐỘ CAO 2.1 Lịch sử hình thành. Vào ngày 27 tháng tư năm 1931, Friedrich Krupp A. đã được cấp bằng sáng chế của Đức về "phương pháp gia công kim loại với các công cụ cắt". Dựa trên các nghiên cứu cắt kim loại của nhà sáng chế C.
Salomon, tốc độ cắt của sắt, thép, kim loại màu và kim loại ánh kim ở tốc độ cắt 440 m / phút, đồng thiếc 1.840 m / phút và nhôm lên đến 16. Cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cho thuật ngữ “Gia công tốc độ cao”. Theo lý thuyết được Salomons đưa ra vào năm 1931 thì “Gia công tốc độ cao là gia công với vận tốc cắt nhanh hơn vận tốc cắt khi gia công truyền thống từ 5 đến 10 lần”. Về sau này có thêm một số cách hiểu khác về HSM như gia công với tốc độ trục chính cao (high spindle speed maching), gia công với bước tiến lớn (high feed machining), gia công năng suất cao (high productive machining).
Tuy nhiên, các cách hiểu này chỉ mang tính tương đối vì một tốc độ (của trục chính và bàn máy) được xem là nhanh đối với loại vật liệu này có thể bị xem là chậm với một loại vật liệu khác hoặc được xem là nhanh ngày hôm nay sẽ bị xem là bình thường nếu tốc độ cắt được nâng lên trong tương lai. Ngày nay, khái niệm thường được nhắc đến khi nói về HSM là : “Gia công tốc độ cao là phương pháp gia công sử dụng tốc độ trục chính cao và bước tiến lớn với lượng dịch dao ngang nhỏ và chiều sâu cắt nhỏ”. Khái niệm này trực quan giúp mọi người có thể phân biệt HSM với các phương pháp gia công khác nhưng nó chưa thể hiện hết bản chất của HSM vì HSM là một phương pháp gia công được tổng hợp từ nhiều yếu tố công nghệ như máy móc, thiết bị, phần mềm lập trình và chế độ cắt gọt … để đạt hiệu quả gia công cao nhất. [9] 5 Luan van Thực tế thì gia công tốc độ cao không đơn giản là vận tốc cắt cao.
Nó phải được xem như là một quá trình gia công mà ở đó các bước gia công được thực hiện bằng những phương pháp và thiết bị gia công rất cụ thể. Một số thông số tham khảo giữa gia công thường và gia công tốc độ cao trong bảng 2.1 Một số thông số tham khảo giữa gia công thường và tốc độ cao. Các thông số Gia công thường Gia công tốc độ cao Tốc độ trục chính (v/ph) ≤ 4.000 Tốc độ chạy dao trên các trục ≤ 10.000 Gia công tốc độ cao cũng không phải là gia công với tốc độ trục chính cao hoặc tốc độ chạy dao cao bởi vì có nhiều ứng dụng gia công cao tốc được thực hiện với máy có tốc độ bình thường. Gia công tốc độ cao thường được sử dụng khi gia công tinh thép đã tôi với việc sử dụng cả hai yếu tố là tốc độ cao và lượng ăn dao cao.
Tùy theo loại vật liệu mà dãy tốc độ gia công tốc độ cao khác nhau [18]. Trên thực tế, có nhiều cách khác nhau để định nghĩa gia công tốc độ cao ta có thể dựa vào các yếu tố sau: - Gia công với vận tốc cắt cao. - Gia công với tốc độ quay trục chính cao. - Gia công với tốc độ chạy dao cao.
- Gia công với vận tốc cắt cao và tốc độ chạy dao cao. - Gia công với năng suất cao. Tóm lại, gia công tốc độ cao là sự kết hợp của tốc độ trục chính máy cao, lượng ăn dao lớn, hệ điều khiển CNC cao cấp, thiết bị gá dao ổn định, cân bằng; dụng cụ cắt đảm bảo và phần mềm CAD/CAM phù hợp. Tốc độ trục chính khoảng 5000 v/phút có thể là điểm khởi đầu cho gia công tốc độ cao.
Trong thực tế, tốc độ cao nhất cho gia công tốc độ cao trên các máy công cụ ngày càng tăng, lên đến 60.000 v/phút và hơn thế nữa. Tốc độ chạy dao trung bình là 10m/phút trong khi tốc độ di chuyển 6 Luan van nhanh lên đến 60m/phút và cao hơn, công suất động cơ trục chính từ 15kW trở lên [18].2 Những nhân tố kinh tế và kỹ thuật của gia công tốc độ cao. [17] Sự sống còn: sự gia tăng cạnh tranh trên thương trường đang không ngừng thiết lập những tiêu chuẩn mới. Sự đòi hỏi về thời gian và giá thành ngày càng cao hơn.
Điều này buộc sự phát triển của những quá trình và kỹ thuật sản xuất mới có ý nghĩa quan trọng. Gia công tốc độ cao tạo ra hy vọng và giải pháp cho vấn đề đó. Vật liệu: sự phát triển của vật liệu mới và khó gia công đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tìm ra những phương pháp gia công mới. Trong công nghiệp hàng không có thép hợp kim cách nhiệt và chống gỉ.
Công nghiệp tự động hóa có nhiều loại composit lưỡng tính, compact graphic iron và nhôm tỉ trọng nhẹ. Công nghiệp khuôn mẫu phải đối mặt với vấn đề gia công thép dụng cụ có độ cứng cao, tiến hành gia công thô đến tinh với sai số chế tạo thấp, thời gian gia công đồng nghĩa với thời gian đáp ứng giao hàng là ngắn nhất. Chất lượng: sự đòi hỏi cao hơn về chất lượng của chi tiết và sản phẩm là kết quả của sự cạnh tranh khốc liệt. Gia công tốc độ cao đưa ra những giải pháp, nếu áp dụng đúng cho lĩnh vực này, sự thay thế công đoạn hoàn chỉnh bằng tay (làm nguội, cạo rà) là một ví dụ.
Đặc biệt quan trọng với việc gia công khuôn mẫu và những chi tiết có hình dáng 3D phức tạp.3 Lĩnh vực áp dụng HSM. [12] - Phay hốc: có thể áp dụng gia công tốc độ cao để gia công thép hợp kim dụng cụ chất lượng độ cứng từ 60 – 63 HRC. - Khi gia công các hốc làm bằng vật liệu cứng: cốt yếu cần chọn dao và cán dao thích hợp cho mỗi nguyên công: thô, bán tinh và tinh. Để thành công điều quan trọng là phải tối ưu đường chạy dao, chế độ cắt và chiến lược gia công.
- Gia công khuôn rèn: hầu hết các khuôn rèn phù hợp với gia công tốc độ cao vì hầu hết chúng thuộc dạng cạn. Dao ngắn luôn gia công được với năng suất cao hơn vì ít bị uốn nhất. Bảo trì các khuôn rèn thường đòi hỏi gia công các bề mặt cứng và thường. 7 Luan van - Gia công khuôn đúc: có thể sử dụng gia công tốc độ cao có năng suất đối với hầu hết khuôn đúc làm bằng thép dụng cụ có kích cỡ vừa phải hoặc nhỏ.
- Khuôn thổi và ép phun: gia công tốc độ cao phù hợp để gia công các khuôn loại này đặc biệt bởi vì chúng thường có kích thước nhỏ, điều mà tạo cho gia công tốc độ cao mang lại hiệu quả kinh tế để thực hiện toàn bộ các nguyên công (từ thô đến tinh) trong một lần gá đặt. Nhiều khuôn có hốc khá sâu đòi hỏi phải có phương pháp gia công, đường chạy dao tốt. - Gia công các điện cực bằng graphit và đồng đỏ: ứng dụng này rất phù hợp với gia công tốc độ cao, graphit được gia công một cách có năng suất với dao phay mặt đầu TiCN, hoặc dao carbide rắn phủ kim cương. Khuynh hướng dùng tia lửa điện để gia công các điện cực ngày càng giảm trong khi khuynh hướng dùng gia công tốc độ cao ngày càng cao.
- Các khuôn và mẫu mô hình: đây là ứng dụng dùng gia công tốc độ cao sớm nhất, rất dễ để gia công các vật liệu kim loại màu, nhôm, …. Vận tốc cắt thường cao 1500-5000m/phút và do vậy bước tiến cũng rất cao.4 Thuận lợi của HSM. [17] - Nhiệt cắt thấp: chiều sâu cắt mỏng và thời gian làm việc của lưỡi cắt cực kì ngắn. Có thể nói là vận tốc tiến dao nhanh hơn sự truyền nhiệt.
Trong gia công tốc độ cao, khối vật liệu bị loại bỏ nhanh chóng, nhiệt sinh ra phần lớn xuất phát từ năng lượng biến dạng tại vùng tách phoi, ma sát giữa dao và phoi. Do vậy, tốc độ truyền nhiệt vào dao và chi tiết nhỏ hơn bước tiến dao. - Lực cắt nhỏ: với đặc trưng chiều sâu cắt nhỏ khi gia công tốc độ cao, lực hướng kính Pz tác dụng lên dụng cụ và trục chính cũng nhỏ. Nhờ đó bảo vệ vòng bi trục chính, rãnh dẫn hướng và trục vít me đai ốc bi.
Gia công tốc độ cao và phay theo trục thẳng đứng cũng là một sự kết hợp tốt do tác động lên vòng bi trục chính nhỏ và phương pháp đó cho phép dụng cụ dài hơn và ít rủi ro do rung động. - Chất lượng bề mặt cao: độ bóng bề mặt có thể đạt đến 0.1µm khi gia công ở tốc độ 200m/phút và độ dày lớp biến cứng nhỏ hơn 90 µm. 8 Luan van - Quá trình cắt năng suất cao với chi tiết kích thước lớn: khi tiến hành gia công thô, bán tinh và tinh thì lợi về kinh tế khi tổng lượng vật liệu cắt bỏ tương đối nhỏ. Năng suất gia công tinh và cần thiết để đạt được bề mặt tinh cực kì tốt.
Thông thường có khoảng Ra ~ 0. Có thể gia công những thành rất mỏng, ví dụ chiều dày thành có thể là 0.2mm và chiều cao 20mm. Thời gian tiếp xúc giữa lưỡi cắt và phôi cực kì ngắn để tránh rung động và cong vênh thành phôi. Hình dáng tế vi của dụng cụ cắt phải chắc chắn và lưỡi cắt rất bén.
Độ chính xác hình học của khuôn giúp cho việc lắp ráp dễ dàng và nhanh chóng. Không cần người điều khiển, không có vấn đề kỹ năng, có thể hoàn tất với CAM/CNC tạo ra cấu tạo và hình dáng bề mặt. Nếu thêm vài giờ cho gia công, thời gian cho công đoạn đánh bóng bằng tay có thể cắt giảm đột ngột. Thông thường khoảng 60 – 100%.
- Giảm công đoạn gia công: Sự giảm bớt công đoạn chế tạo như tôi cứng, phay điện cực và EDM có thể giảm thiểu. Điều này giảm bớt tiền đầu tư và đơn giản hóa quá trình chuẩn bị. Ít chiếm diện tích cho các trang thiết bị EDM.