CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM VÀ PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM MỨC KHÍA CẠNH 1.1 Tổng quan về phân tích quan điểm Ngày nay, truyền thông trực tuyến và truyền thông xã hội đang nhanh chóng thay thế phương tiện ngoại tuyến. Việc sử dụng Internet và các hoạt động trực tuyến (như trò chuyện, hội nghị, đặt vé, giao dịch trực tuyến, thương mại điện tử, truyền thông xã hội, viết blog và vi blog, nhấp chuột, v.v) ngày càng tăng. Phương tiện trực tuyến cung cấp các biện pháp tốt hơn để trả lời và phản hồi nhanh chóng về các vấn đề toàn cầu khác nhau trong dạng bài viết văn bản đăng tải, tin tức, ảnh, và video. Nhiều diễn đàn, blog, mạng xã hội, các website thương mại điện tử, các trang tin tức tài chính và các tài nguyên web khác đóng vai trò là các nền tảng để bày tỏ, chia sẻ rộng rãi quan điểm của người dùng.
Do đó, chúng có thể được sử dụng để hiểu các quan điểm của công chúng và người tiêu dùng đối với các sự kiện xã hội, chính trị, chiến lược của các doanh nghiệp, chiến dịch tiếp thị, sản phẩm ưu tiên, giám sát [42, 43], ngoài ra, các nguồn tài nguyên này cũng có thể được sử dụng để học hành vi của người tiêu dùng, thị trường mẫu, và dự đoán xu hướng của xã hội [44, 45]. Để tạo ra các ứng dụng thực tiễn hiệu quả, cộng đồng nghiên cứu và các nhà phát triển ứng dụng đang làm việc nghiêm túc trong lĩnh vực phân tích quan điểm suốt hai mươi năm qua. Phân tích quan điểm là một nghiên cứu đo lường về các quan điểm, tình cảm, cảm xúc, và thái độ đã thể hiện trong các văn bản đối với một thực thể [4]. Phân tích quan điểm là nhiệm vụ phát hiện, trích rút và phân loại các quan điểm, tình cảm, thái độ liên quan đến các chủ đề khác nhau được thể hiện trong văn bản đầu vào [3].
Phân tích quan điểm giúp các nhà quản lý, các chuyên gia hoạch định chiến lược doanh nghiệp thấy được các kết quả khác nhau như quan sát tâm trạng cộng đồng về sự kiện chính trị, trí tuệ thị trường [45], đo lường sự hài lòng của khách hàng, dự đoán doanh thu phim [43] và nhiều hơn nữa. Phân tích quan điểm cũng giúp người tiêu dùng trở nên thông minh hơn trong các quyết định tiêu dùng của họ. Phân tích quan điểm là lĩnh vực nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật khác nhau trong các lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên (Natural Language Processing - NLP), tra cứu thông tin (Information Retrieval - IR), trích rút thông tin (Information Extraction - IE), khai phá dữ liệu (Data Mining - DM) có cấu trúc và không có cấu trúc. Phần lớn dữ liệu có sẵn trong thế giới thực là không có cấu trúc (như văn bản, tiếng nói, âm thanh, video, v.
Điêu này đặt ra những thách thức nghiên cứu quan trọng. Để giải quyết với dữ liệu văn bản không cấu trúc như vậy, nhiều nỗ lực nghiên cứu đã được đề xuất trong những năm gần đây, và các nghiên cứu phân tích quan điểm tự động là một sự mở rộng nghiên cứu trong lĩnh vực NLP [3]. Phân tích quan điểm không phải 9 là vấn đề đơn lẻ, thay vào đó nó là một vấn đề đa diện. Nhiều vấn đề khác nhau cần được thực hiện để khai thác quan điểm từ văn bản đưa ra.
Các công việc thu thập dữ liệu, tiền xử lý dữ liệu, biểu diễn đặc trưng, trích rút và lựa chọn đặc trưng là các tác vụ phổ biến nhất đòi hỏi phải có trong khai phá quan điểm [3].1 Các khái niệm cơ bản Thuật ngữ khai phá quan điểm (Opinion Minning-OM) xuất hiện khoảng từ những năm đầu của thế kỉ 21. Đến năm 2005, với nghiên cứu của Bing Liu [46] thì thuật ngữ phân tích quan điểm mới được đưa ra rõ ràng hơn. Theo tác giả, các quan điểm có thể đề cập về bất cứ chủ đề nào đó, ví dụ như một sản phẩm, một tổ chức, một cá nhân, một chủ đề chính trị hoặc xã hội. Tác giả coi các đối tượng được nhận xét là các thực thể (entity).
Thực thể này là một tập hợp các thành phần (component). Và như thế, các đối tượng có thể được phân ra theo các thành phần của mối quan hệ, tức là mỗi thành phần cũng có thể có các thành phần con của nó.1: Ví dụ bài đánh giá sản phẩm máy ảnh kỹ thuật số Ví dụ 1.1) Từ bài nhận xét này chúng ta thấy một số điểm như sau: - Bài nhận xét có 5 câu, trong đó câu (1) đề cập đến đối tượng được miêu tả là máy ảnh Canon G12. Câu (2) thể hiện một cảm xúc tổng thể về máy ảnh Canon G12 là tích cực. Câu (3) thể hiện một cảm xúc tích cực về chất lượng ảnh của chiếc máy ảnh này.
Câu (4) thể hiện một cảm xúc tích cực về thời lượng của pin. Và cuối cùng câu (5) là một cảm xúc tiêu cực về trọng lượng của máy ảnh. - Bài nhận xét này có quan điểm từ 2 người, điều này được gọi là nguồn quan điểm (opinion sources) hoặc chủ sở hữu quan điểm (opinion holders). Người 10 sở hữu quan điểm trong các câu 2,3,4 là ông John Smith và người sở hữu quan điểm trong câu 5 lại là vợ của ông John Smith.
- Thời gian đăng của bài nhận xét là ngày 10 tháng 9 năm 2011. Thời gian đăng bài là quan trọng đối với người đọc bởi vì họ luôn muốn biết các quan điểm đó thay đổi như thế nào trên dòng thời gian và khuynh hướng của các quan điểm này. Kết luận từ quan sát: - Một quan điểm bao gồm 2 thành phần chính: một mục tiêu g và một cảm xúc s trên mục tiêu: (g, s). Trong đó g có thể là thực thể hoặc thành phần của thực thể (thành phần này chính là các thuộc tính của thực thể) trong quan điểm đã được thể hiện.
Cảm xúc s là trạng thái tình cảm mang tính tích cực, tiêu cực hoặc trung lập. Đôi khi cảm xúc này còn được thể hiện bằng một định lượng khác là điểm số hoặc sao (thang điểm 1-10 hoặc 1-5 sao). Các cảm xúc này được gọi là khuynh hướng hoặc phân cực cảm xúc. Ví dụ, trong câu (2), mục tiêu của quan điểm là máy ảnh Canon G12 và trong câu (3), mục tiêu của quan điểm là chất lượng ảnh của máy ảnh Canon G12.
- Mỗi quan điểm đều có chủ sở hữu là h. - Mỗi quan điểm đều có thời gian thể hiện t là xác định, rõ ràng.1 Thực thể (Entity) [47]: Thực thể e là một sản phẩm, dịch vụ, chủ đề, vấn đề, con người, tổ chức, hoặc sự kiện. Nó được mô tả với một cặp, e: (T,W ), trong đó, T là một cấu trúc phân cấp của các thành phần, W là tập các thuộc tính của e. Mỗi thành phần có thể có các thành phần con và thuộc tính của nó.
Loại thực thể và biểu diễn thực thể [3]: Loại thực thể (Entity category) đại diện cho một thực thể duy nhất, biểu diễn của thực thể (Entity expression) là một từ hoặc cụm từ cụ thể mà chúng xuất hiện trong văn bản để biểu thị cho một loại thực thể. Để nghiên cứu hiệu quả văn bản ở mức độ chi tiết tùy ý như trong Định nghĩa 1.1 là rất khó. Hơn nữa, đối với người dùng thì cách mô tả biểu diễn phân cấp trên là khá phức tạp và khó sử dụng. Do vậy, chúng ta nên đơn giản hóa phân cấp cây thành 2 cấp độ và sử dụng thuật ngữ khía cạnh (Aspect) để biểu diễn cả hai là thành phần con và thuộc tính.
Cây được đơn giản hóa, nút gốc là thực thể và nút lá là khía cạnh khác nhau của thực thể (Hình 1.2 Khía cạnh (Aspect) [47]: Khía cạnh a là một thành phần con hoặc một thuộc tính của thực thể e. Ví dụ “picture quality”, “battery life”, “weight” là các khía cạnh của thực thể “Canon G12 camera”. Tên khía cạnh và biểu diễn khía cạnh: Tên khía cạnh là tên của một khía cạnh được cung cấp bởi người dùng, trong khi biểu diễn khía cạnh là một từ hoặc cụm từ thực tế đã xuất hiện trong văn bản mà nó chỉ ra một khía cạnh [3].2: Ví dụ thực thể điện thoại iPhone gồm các thành phần và thuộc tính của nó Biểu diễn khía cạnh rõ ràng: Các thể hiện khía cạnh trong một câu là các danh từ, cụm danh từ được gọi là biểu diễn khía cạnh rõ ràng (Explicit aspect expressions). Ví dụ, “picture quality” trong “The picture quality of this camera is great” là một biểu diễn khía cạnh rõ ràng.
Biểu diễn khía cạnh ẩn: Các dạng khác của biểu diễn khía cạnh là biểu diễn khía cạnh ẩn (Implicit aspect expressions). Ví dụ, “heavy” trong “However, my wife thinks it is too heavy for her” là một biểu diễn khía cạnh ẩn.1, cảm xúc đối với khía cạnh “picture quality” là tích cực thể hiện qua “amazing”, nhưng cảm xúc trên khía cạnh “wieght” (khía cạnh có thể hiện ẩn) là tiêu cực thể hiện qua “too heavy”.4 Người sở hữu quan điểm (Opinion holder) [47]: Người sở hữu quan điểm h là người hay tổ chức cụ thể trực tiếp đưa ra các quan điểm về một thực thể hay một khía cạnh của thực thể.5 Thời gian thể hiện quan điểm (Time) [47]: Thời gian t là thời điểm mà quan điểm về một thực thể hay một khía cạnh của thực thể xuất hiện. Trong đó ei là tên của thực thể, ai j là một khía cạnh j của thực thể ei , còn si jkl là quan điểm (sự thể hiện thái độ, tình cảm, cảm xúc) trên khía cạnh ai j của thực thể ei được phát biểu bởi hk tại thời điểm tl , hk là chủ sở hữu quan điểm, và tl là thời gian khi quan điểm được thể hiện bởi hk .1 và định nghĩa 1.6 ta có thể xác định các quan điểm cụ thể như sau: 12 (Canon G12, general, positive, Jonh Smith, September 10, 2011) (Canon G12, picture-quality, positive, Jonh Smith, September 10, 2011) (Canon G12, bettery-life, positive, Jonh Smith, September 10, 2011) (Canon G12, weight, negative, Jonh Smith’s wife, September 10, 2011) Định nghĩa 1.6 đã đưa ra một cách nhìn khái quát và đầy đủ về quan điểm và các thành phần của quan điểm.2 Các nhiệm vụ trong phân tích quan điểm Đối tượng nghiên cứu của phân tích quan điểm Đưa ra một văn bản chứa quan điểm d, khám phá tất cả năm thành phần quan điểm (ei , ai j , si jkl , hk ,tl ) trong d, nhiệm vụ chính được bắt nguồn từ bộ năm thành phần của phân tích quan điểm. Từ những thảo luận trong phần (1.1) mô hình thực thể (model of entity) và mô hình văn bản quan điểm (model of opinion document) [47] được xác định.