Phần mở đầu: “Giới thiệu tổng quan nghiên cứu và giải thích tầm quan trọng khi thực hiện nghiên cứu. Nội dung của chương này bao gồm lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu luận văn”. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. “Trình bày các khái niệm, tổng quan các lý thuyết, các nghiên cứu có liên quan đến luận văn về sự tác động của các yếu tố khác nhau đến khả năng thanh toán nợ của khách hàng cá nhân”.
Chương 3: Tổng quan địa bàn nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu xây dựng mô hình nghiên cứu. “Mô tả, giải thích các biến số trong mô hình, đo lường các biến và kỳ vọng các giả thuyết nghiên cứu cho từng yếu tố”. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, “mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích mô hình kinh tế lượng, thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy, đồng thời đánh giá nhận xét trong quá trình phân tích, so với giả thuyết nghiên cứu đặt ra và trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu của luận văn”. Kết luận và khuyến nghị: “Kết thúc nghiên cứu với phần tổng kết lại kết quả nghiên cứu, nêu lên được các kết luận rút ra từ quá trình phân tích, đồng thời đưa ra các khuyến nghị, các giải pháp chính sách đối với các đối tượng liên quan, hạn chế của đề tài và hướng phát triển tiếp theo của luận văn”.
Trang 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 tập trung giới thiệu định nghĩa các khái niệm quan trọng trong quá trình nghiên cứu, tổng quan cơ sở lý thuyết, mô hình lý thuyết, các nghiên cứu trước và mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm “các biến phụ thuộc (khả năng thanh toán nợ quá hạn của khách hàng cá nhân tại các Ngân hàng TMCP trên địa bàn tỉnh Bình Thuận), các biến độc lập có khả năng tác động đến khả năng thanh toán nợ quá hạn của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng TMCP trên địa bàn tỉnh Bình Thuận ”. Tổng quan về tín dụng cá nhân Tín dụng là một khái niệm có từ rất lâu, tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa một bên là Ngân hàng, một bên là đối tượng đi vay trên nguyên tắc hoàn trả. “Tín dụng vốn là quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật trên nguyên tắc người đi vay hoặc tổ chức đi vay phải hoàn trả cho người hoặc tổ chức cho vay cả nợ gốc lẫn lãi sau một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận. Hoạt động tín dụng có thể chia làm nhiều hình thức khác nhau căn cứ vào các tiêu chuẩn khác nhau, trong đó nếu căn cứ đối tượng đi vay thì có thể phân chia thành tín dụng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp” (Nguyễn Minh Kiều, 2007).
Khái niệm tín dụng có nhiều quan niệm khác nhau vì vậy chúng ta phải phân loại như sau: Phân loại theo thời hạn tín dụng, phân loại theo rủi ro tín dụng, phân loại theo hình thức tín dụng và phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng vay vốn. “Ngành ngân hàng cần xây dựng chính sách tín dụng cá nhân của Ngân hàng được đảm bảo cho hoạt động tín dụng cá nhân mở rộng, tăng trưởng nhưng phải an toàn”. Khái niệm và đặc điểm của tín dụng cá nhân Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một Trang 9 khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
“Có nhiều cách định nghĩa nhưng tựu trung lại thì tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dụng: (i) Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng; (ii) Sự chuyển nhượng này có thời hạn; và (iii) Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro”. Theo từ điển “Tài chính ngân hàng” (Law và Smullen, 2005), tín dụng cá nhân “là khoản tiền hoặc tài sản mà các tổ chức tín dụng cung cấp cho một cá nhân sau khi đã đánh giá rủi ro về cá nhân này và tổ chức cung cấp tín dụng này sẽ nhận được khoản tiền gốc và lãi cho vay sau một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận”. Đây là khái niệm được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Theo các cách hiểu trên về tín dụng ngân hàng và tín dụng cá nhân và theo phạm vi nghiên cứu của luận văn này, có thể hiểu tín dụng cá nhân là “hình thức tín dụng mà trong đó tổ chức tín dụng đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sau khi đã đánh giá rủi ro về loại khách hàng này, ngân hàng sẽ được thanh toán lại cả gốc và lãi cho vay sau một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận”.
Đây cũng chính là định nghĩa được sử dụng trong luận văn này. Về cơ bản, tín dụng có thể thể hiện dưới các hình thức khác nhau: tín dụng bằng tiền (cho vay), tín dụng bằng tài sản (cho thuê tài chính), tín dụng bằng chữ tín (bảo lãnh). Tuy nhiên, “trong hoạt động tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng thương mại cổ phần. Do đó, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng đan xen và thay thế cho nhau”.
Từ định nghĩa trên cho thấy tín dụng cá nhân là một loại hình của tín dụng, vì vậy nó mang những đặc điểm chung của tín dụng. Có ba đặc điểm chung như sau: Thứ nhất, tín dụng dựa trên cơ sở đáng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho khách hàng, cá nhân hay doanh nghiệp khi có đáng tin vào việc khách hàng sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, hiệu quả và có khả năng thanh toán nợ (gốc và lãi) đúng hạn. Thứ hai, tín dụng là việc chuyển nhượng một lượng giá trị tiền tệ có thời hạn.
Ngân hàng là trung gian tài chính, vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa là người cho vay. Nguồn Trang 10 vốn ngân hàng sử dụng để cho vay được lấy từ nguồn vốn huy động, do vậy, tất cả các khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng có thể hoàn trả vốn huy động. Thứ ba, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đây chính là thuộc tính riêng có của tín dụng.
Người đi vay phải trả thêm một khoản lãi ngoài gốc, là chi phí của việc sử dụng vốn vay. Đây là nguồn để ngân hàng bù đắp chi phí hoạt động, cũng như tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra, hoạt động tín dụng cá nhân còn mang một số đặc điểm riêng như: Thứ nhất, xét về mặt quy mô, “ Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Các khoản tín dụng cấp cho khách hàng cá nhân là tương đối nhỏ so với tín dụng cấp cho doanh nghiệp.
Hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn tương đối và chỉ bổ sung phần còn thiếu. Tuy nhiên, đối tượng vay là tất cả các cá nhân trong xã hội với nhu cầu hết sức đa dạng. Do đó tổng quy mô các khoản tín dụng cá nhân là cũng khá lớn”. Thứ hai, xét về mặt lãi suất, “ Lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn cho vay đối với doanh nghiệp.
Số lượng các khoản vay thường rất lớn, nhưng quy mô mỗi khoản vay lại nhỏ. Để bù đắp chi phí và thu lợi nhuận, ngân hàng thường đặt ra mức lãi suất cao hơn so với cho vay doanh nghiệp. Tuy nhiên, khách hàng thường quan tâm đến số tiền mà cá nhân phải trả hơn là lãi suất mà cá nhân phải chịu”. Thứ ba, xét về nhu cầu vay, “ Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân thường nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế, tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái”.
Thứ tư, xét về nguồn thanh toán nợ, “ Nguồn thanh toán nợ của khách hàng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thu nhập từ lương, cho thuê tài sản và thu nhập từ kinh doanh. Nguồn thanh toán nợ này có thể có những biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ. Sự kiểm soát các nguồn thu này nhiều khi rất khó khăn”. Thứ năm, ở khía cạnh rủi ro.
“Các khoản vay cá nhân thường có độ rủi ro cao do chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp thường không cao”. Các hình thức tín dụng cá nhân Đối với hình thức “tín dụng cá nhân, về cơ bản, có hai loại chính là cho vay có tài sản đảm bảo” (Secured Loan) và “cho vay không có tài sản đảm bảo” (Unsecured Loan). “ Cho vay có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay mà khách hàng phải sử dụng tài sản thế chấp của mình để đảm bảo cho khoản vay tại các tổ chức tín dụng. Trong khi đó cho vay không tài sản đảm bảo (hay còn gọi là cho vay tín chấp) thì khách hàng không cần sử dụng tài sản của mình để thế chấp cho ngân hàng khi vay vốn.
Tại Việt Nam, hay cụ thể là tại các Ngân hàng TMCP ở Bình Thuận, một số khách hàng muốn chấp nhận hình thức cho vay này thì họ phải thỏa mãn một số điều kiện về thu nhập (được chi trả lương qua ngân hàng), chức vụ hiện hành, thời gian làm việc trong một tổ chức,… Từ hai hình thức chung này tín dụng lại được chia thành rất nhiều hình thức cho vay khác”. Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), “các hình thức tín dụng cá nhân có thể bao gồm cho vay bất động sản, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiểu thương, cho vay nông nghiệp, dịch vụ thẻ tín dụng…”. Tại các nước phát triển mà cụ thể là Mỹ, “các hình thức cho vay đa dạng hơn do sự phát triển lâu đời của hệ thống ngân hàng” (Nguyễn Ngọc Lê Ca, 2011).