CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT MA SÁT MÒN 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ MA SÁT VÀ MÒN 1. Các khái niệm cơ bản về ma sát Ma sát xuất hiện tại các bề mặt chuyển động tiếp xúc với nhau khi chịu tác dụng của lực trong điều kiện môi trường nhất định. Ma sát ngoài là hiện tượng phức tạp phụ thuộc vào sự biến đổi của các quá trình diễn ra trên diện tích tiếp xúc thực và trên lớp bề mặt mỏng trong quá trình chuyển động tương đối của một vật thể trên bề mặt vật thể khác.
Ma sát ngoài chịu tác dụng bởi các quá trình diễn ra dưới lớp bề mặt cực mỏng và ở giới hạn rời rạc của tiếp thực trên bề mặt vật thể rắn. Lực ma sát phụ thuộc vào tính chất cơ lý của lớp này, nó hoàn toàn khác với bề mặt của các lớp dưới. Vì vậy lực tương tác phân tử không đối xứng ở lớp dưới và nguyên tử không đạt được vị trí có mức năng lượng thấp nhất như trong khối vật liệu nền. Cấu trúc của lớp dưới bề mặt này là cấu trúc biến dạng do quá trình gia công và do chính sự biến dạng của lớp này cũng như sự thay đổi của nhiệt độ bề mặt trong quá trình ma sát.
Do đó năng lượng của lớp dưới bề mặt sẽ cao hơn năng lượng của toàn khối kim loại. Các nguyên tử của môi trường xung quanh hấp thụ vào bề mặt vật rắn, tạo thành màng hợp chất hóa học với bề mặt vật rắn. Trong trường hợp đơn giản đó là lớp màng mỏng ô xít. Nhìn chung lớp dưới bề mặt có cấu trúc biến dạng, chứa đựng màng ô xít mỏng và một lớp hấp thụ của nước hoặc khí (thường là không khí).
Để giảm tương tác của các tiếp xúc vật rắn khi ma sát thường sử dụng chất bôi trơn. Trong trường hợp này tương tác ma sát thường xảy ra trên lớp phủ mỏng hơn là trên lớp bề mặt của chúng. Phụ thuộc vào điều kiện bề mặt của vật rắn khi ma sát, phân biệt ma sát không bôi trơn, ma sát giới hạn và ma sát chất lỏng. Lực ma sát là lực cản trở dịch chuyển tương đối của các vật rắn có hướng ngược chiều chuyển động xuất hiện tại các vết tiếp xúc thực.
Lực ma sát ngoài không ổn định, công của lực ma sát ngoài phục thuộc vào quãng đường mà vật rắn di chuyển. Độ lớn của lực ma sát ngoài nhìn chung được xác định theo khoảng dịch chuyển của vật rắn theo phương tiếp tuyến. Căn cứ vào khoảng dịch chuyển này để phân biệt lực ma sát ngoài tĩnh và lực ma sát ngoài động. Lực ma sát khởi động là lực cản trở chuyển động trong trường hợp dịch chuyển nhỏ, khoảng dịch tiếp tuyến có tính thuận nghịch này được gọi là dịch chuyển ban đầu.
Lực ma sát khởi động thường xuất hiện trong các khớp ma sát trượt không liên tục dưới tác động của tải trọng. Lực ma sát tĩnh là toàn bộ lực ma sát tương ứng với dịch chuyển từ trạng thái dịch chuyển ban đầu lớn nhất, hay nói cách khác là sự dịch chuyển từ trạng thái dịch chuyển ban đầu sang trạng thái trượt. Lực ma sát động là lực ma sát xuất hiện trong quá trình có chuyển động tương đối ở vùng tiếp xúc. Lực ma sát ngoài có quan hệ với cường độ biến dạng của lớp bề mặt trên vật thể mềm do sự thâm nhập của các nhấp nhô bề mặt cứng.
Nhưng không phải mọi 10 quá trình biến dạng trên lớp bề mặt đều liên quan đến quá trình ma sát ngoài. Trên thực tế ma sát ngoài chỉ liên quan tới biến dạng của lớp bề mặt theo phương tiếp tuyến với chuyển động trong tiếp xúc của vật thể rắn. Về mặt động học, ma sát trượt và ma sát lăn là khác biệt nhau nhưng thường xảy ra một quá trình ma sát có tồn tại cả hai dạng nói trên. * Các đại lượng đặc trưng của ma sát: Để đánh giá ma sát người ta thường sử dụng ba đại lượng không thứ nguyên là: hệ số ma sát, hệ số ma sát khi va đập và hệ số mất mát năng lượng khi ma sát.
Hệ số ma sát trượt là tỷ số giữa lực ma sát và tải trọng pháp tuyến: F f (1.1) N Trong đó: F – lực ma sát; N – tải trọng pháp tuyến. Trong trường hợp gia công chi tiết bằng biện pháp gia công áp lực thì hệ số ma sát là tỷ ∆ số của sức bền tiếp tuyến trong vùng tiếp xúc giữa hai vật thể và giới hạn chảy của kim loại yếu hơn, nó tương ứng với lý thuyết biến dạng dẻo, hệ số ma sát vượt quá 0,5. Hệ số ma sát khi va đập là tỷ số của lượng thay đổi về mặt động lượng của vật thể va đập theo hướng tiếp tuyến và pháp tuyến: ' mvt f (1.2) ' mvn Trong đó: ' mvt - lượng thay đổi động lượng theo phương tiếp tuyến. ' mvn - lượng thay đổi động lượng theo phương pháp tuyến.
Hệ số mất mát năng lượng khi ma sát là tỷ số của công tiêu hao để thắng lực ma sát và công tiêu hao chung: Wt f (1.3) W¦ Trong đó: WT – công tiêu hao để thắng lực ma sát; W6 - công tiêu hao chung. Các đại lượng đặc trưng nói trên thường được sử dụng để phân tích và đánh giá các tổn thất về ma sát trong máy và cơ cấu. * Phân loại các dạng ma sát: - Phân loại ma sát theo dạng chuyển động: 11 Căn cứ vào dạng chuyển động của bề mặt ma sát gồm có các loại ma sát: ma sát trượt, ma sát lăn, ma sát xoay và ma sát hỗn hợp, [1]. + Ma sát trượt là ma sát giữa hai bề mặt của vật rắn có chuyển động trượt tương đối, vận tốc tại các điểm tiếp xúc có giá trị và phương như nhau.
Các dạng ma sát theo căn cứ chuyển động + Ma sát lăn là ma sát giữa hai bề mặt của vật rắn có chuyển động lăn tương đối, vận tốc tại các điểm tiếp xúc có thể khác nhau về giá trị nhưng luôn có phương như nhau.1b) + Ma sát xoay là ma sát giữa hai bề mặt có chuyển động xoay tương đối với nhau, vận tốc tại các điểm tiếp xúc có thể khác nhau về giá trị và phương (hình 1. + Ma sát hỗn hợp là ma sát giữa các bề mặt có tổng hợp các dạng ma sát trượt, lăn và xoay. - Phân loại ma sát theo điều kiện bề mặt: Theo điều kiện bề mặt tiếp xúc gồm có các loại ma sát: ma sát không chất bôi trơn, ma sát bôi trơn giới hạn, ma sát ướt, ma sát nửa ướt. + Ma sát không chất bôi trơn: là ma sát của hai vật rắn tiếp xúc khi trên các bề mặt của chúng không có điều kiện khẳng định rõ ràng về sự tồn tại của chất bôi trơn hoặc bất kỳ chất nào.
Trong một số trường hợp còn được gọi là ma sát khô. + Ma sát bôi trơn tới hạn: là ma sát của hai vật rắn khi giữa liên kết của chúng tồn tại một lớp chất lỏng rất mỏng có cơ tính hoàn toàn khác khối chất bôi trơn (chiều dày của lớp chất lỏng này cỡ phân tử đến 0,1. Ma sát bôi trơn tới hạn cũng xảy ra khi bôi trơn bằng chất rắn. Do chiều dày lớp chất lỏng bôi trơn rất mỏng nên trong trường hợp này các phương trình thủy động không được áp dụng.
+ Ma sát ướt là ma sát giữa hai bề mặt vật rắn được phân tách hoàn toàn bởi các lớp chất bôi trơn có chuyển động tương đối, khi đó tập hợp của tất cả các ứng suất tiếp tạo thành lực ma sát. + Ma sát nửa ướt là ma sát giữa hai bề mặt vật rắn khi giữa chúng tồn tại cả ma sát bôi trơn tới hạn và ma sát bôi trơn ướt. Ma sát nửa ướt thường xảy ra trong quá trình làm việc của ổ thuỷ động. - Phân loại ma sát theo động lực học tiếp xúc: 12 Gồm có hai loại: ma sát tĩnh và ma sát động.
+ Ma sát tĩnh: là ma sát xuất hiện giữa hai bề mặt vật rắn trong trạng thái dịch chuyển ban đầu, khi đó thông thường lực ma sát sẽ ngăn cản biến dạng của lớp bề mặt. + Ma sát động: là ma sát xuất hiện giữa hai bề mặt vật rắn trong quá trình có chuyển động tương đối ở vùng tiếp xúc, trong trường hợp này lực ma sát động sẽ có tác dụng thúc đẩy quá trình biến dạng trên lớp bề mặt mỏng và làm tăng diện tích tiếp xúc. - Phân loại ma sát theo điều kiện làm việc: Gồm có 2 loại: ma sát bình thường và ma sát không bình thường. + Ma sát bình thường: là ma sát được đặc trưng bởi sự cân bằng động giữa phá hủy và phục hồi lớp màng mỏng có tính bảo vệ trên bề mặt ma sát, mà thông thường là lớp màng ô xít.
Trong quá trình chạy rà điều kiện ma sát bình thường sẽ dần được thiết lập một cách tự phát trong khớp ma sát. + Ma sát không bình thường: là ma sát không được phép xảy ra trong khớp ma sát, khi đó đỉnh nhấp nhô bề mặt tiếp xúc ma sát sẽ thâm nhập vào nhau gây ra cầy xước hoặc cắt vi mô, v.v… Khi đó tất cả các đặc tính tiếp xúc sẽ thay đổi hoàn toàn. Nói cách khác là sự cân bằng động giữa phá huỷ và phục hồi lớp màng thứ cấp có tính bảo vệ bị phá vỡ. Ma sát không bình thường hay được áp dụng để làm cơ sở cho các phương pháp công nghệ gia công tinh lần cuối như nghiền, đánh bóng… * Quá trình phá huỷ khi ma sát ngoài: Kết quả cuối cùng của mọi quá trình ma sát ngoài đó là sự phá hủy các bề mặt tiếp xúc ma sát với hiện tượng bong tách các phân tử mòn gây mòn về mặt vật liệu hoặc làm thay đổi các đặc tính hình học vĩ mô, thay đổi cấu trúc, tính chất và trạng thái ứng suất của các lớp bề mặt làm cho chi tiết máy bị hư hỏng.
Ở trạng thái vi mô, do mấp mô bề mặt ma sát nên tác động hỗ khi ma sát là phân tán, các tiếp xúc thực tồn tại riêng biệt. Dưới tác động của các thông số cơ học khi ma sát các nhấp nhô bề mặt hoặc thâm nhập vào nhau hoặc bị đè bẹp. Vết tiếp xúc thực hình thành tương ứng với ứng suất và biến dạng. Trong quá trình ma sát thể tích vật liệu cục bộ nằm ở dưới bề mặt chịu tác động tương hỗ lặp đi lặp lại gây ra sự mệt mỏi của lớp lớp bề mặt ma sát và làm tách các phân tử.