Đặt vấn đề Do vấn đề chi phí và nhu cầu ngày càng tăng của vật liệu trong xây dựng nên việc tìm ra loại vật liệu thay thế là rất cần thiết. Trong đó, vật liệu với lượng tiêu thụ lớn được quan tâm đặc biệt là bê tông, theo thống kê sơ bộ, hiện nay bê tông đạt hơn 20 tỉ tấn/năm so với năm 1950 là 2 tỉ tấn/ năm (Hình 1-1) [1]. Hình 1- 1 Sản lượng xi măng khu vực các nước lớn trên thế giới [1] Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường: nóng lên toàn cầu; cạn kiệt-lãng phí tài nguyên từ các phế thải công trình xây dựng, phá dở công trình quá hạn mà không tận dụng; tái chế lại nguồn tài nguyên ấy (Hình 1-2; 1-3). Hình 1- 2 Nguồn chất thải đầu ra ngành công nghiệp xây dựng Nhật Bản [1] 1 Luan van Hình 1- 3 Khối lượng chất thải xây dựng ở các quốc gia [1] Bê tông sử dụng cốt liệu bê tông tái chế (RCA) làm cốt liệu thô được gọi là bê tông tái chế (RAC).
Áp dụng kỹ thuật tái sử dụng các phế thải bê tông từ các công trình, phá dỡ công trình quá hạn để làm cốt liệu thô thay thế cho một phần hoặc toàn bộ cốt liệu nguồn có gốc tự nhiên trong quá trình sản xuất bê tông, đã mang lại nguồn lợi ích rất quan trọng về chi phí. Hơn thế, việc sử dụng cốt liệu tái chế có lợi ích đáng kể cho môi trường như bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên và tiết kiệm được không gian chôn lấp cũng như xử lý các phế thải xây dựng. Bê tông tái chế được xem như là một trong những giải pháp để giải quyết tình trạng hiện tại, điều này dẫn đến số lượng về kết quả nghiên cứu bê tông tái chế ngày càng tăng trong thời gian gần đây [2]. Tình hình nghiên cứu 1.
Ngoài nước Yagishita [2] và cộng sự đã nghiên cứu hiệu suất cấu trúc của RCA được công bố tại Nhật Bản để có thể ứng dụng RCA vào thực tế. Luis Evangelista và Jorge de Brito [3] [4] đã nghiên cứu việc sử dụng bê tông cốt liệu tái chế để thay thế cốt liệu mịn tự nhiên (cát) không gây nguy hiểm cho các tính chất cơ học của bê tông và cho tỷ lệ thay thế lên tới 30% và ảnh hưởng của chất siêu dẻo của bê tông làm bằng bê tông tái chế. Bai và Sun [5] đã sử dụng 8 dầm bê tông từ 8 đến 10 năm để làm cốt liệu vụn bê tông. Mô hình các dầm bê tông có thành phần vụn bê tông thay thế với các mức độ khác nhau 50%, 70% và 100%.
Họ đã quan sát mô hình vết nứt tương tự, nhưng độ võng và độ rộng 2 Luan van vết nứt tăng theo mức tăng của mức thay thế vụn bê tông. Họ cũng kết luận rằng mức độ thay thế của vụn bê tông không ảnh hưởng đáng kể đến vết nứt tối đa của dầm bê tông cốt thép. Các tác giả Tan Li và cộng sự [6] đã nghiên cứu một loại cốt liệu tái chế mới cỡ lớn, cốt liệu thô tái chế kích cỡ lớn (LRCA) với cạnh lớn nhất là 80mm. Vấn đề này được nghiên cứu nhằm đơn giản hóa quá trình nghiền bê tông để có hiệu quả sản xuất cốt liệu thay thế cao.
Thử nghiệm nén khối cho thấy cường độ của bê tông LRCA so với bê tông NAC khác biệt tương đối nhỏ. Khi kích thước LRCA là 80mm, tỉ lệ thành phần thay thế chiếm 40% thì cường độ nén chỉ giảm khoảng 14%. Khi tỉ lệ thành phần thấp hơn 30% thì cường độ nén giảm không đáng kể. Tỉ lệ nén dọc trục bê tông LRCA thấp hơn bê tông NAC là 12%.
Khả năng chịu kéo thấp hơn 10%. Kết quả cho thấy rằng LRCA có các tính chất cơ học tốt và có thể được sử dụng trong bê tông hóa như nền móng cọc, các kết cấu hỗ trợ móng. Mohammadi và cộng sự [7], Katzer và cộng sự [8] đã tiến hành thực nghiệm sử dụng cốt liệu RCA trong vữa và bê tông làm tăng độ co ngót vì RCA có thể hấp thụ một lượng nước lớn, khi thêm thành phần sợi thép vào bê tông và vữa là một phương pháp hiệu quả để giảm co ngót trong bê tông. Khi hàm lượng sợi thép lớn hơn 0,25%, chiều rộng vết nứt của bê tông cốt liệu tái chế cốt sợi thép (SFRAC) có thể giảm đáng kể.
Góp phần hoàn thiện kỹ thuật về tính chất của bê tông RAC để áp dụng vào thực tiễn. Bên cạnh các nghiên cứu về tính chất cơ học và độ bền RAC cũng như tỉ lệ phần trăm thay thế của cốt liệu RCA thì cần quan tâm khả năng chịu nhiệt và khả năng làm việc của bê tông sau khi tiếp xúc với nhiệt độ cao. Khi bê tông tiếp xúc với nhiệt độ cao, nhiệt độ có thể gây ra sự phá hủy liên kết, khả năng cơ học của bê tông, độ bền,… Một số nghiên cứu về giới hạn bê tông đã chỉ ra rằng sau khi tiếp xúc với nhiệt độ cao, cường độ RAC thay đổi đáng kể, với nhiệt độ càng cao, thời gian tiếp xúc càng lâu, cường độ bê tông giảm càng lớn. Khi bê tông ở nhiệt độ cao sẽ sản sinh các hạt nước lỗ rỗng khiến xi măng bị bốc hơi và hình thành các áp lực nước lỗ rỗng bên trong bê tông gây ra hiện tượng nứt, làm hỏng sự liên kết với cốt liệu dẫn đến vỡ bê tông.
Kỹ thuật phổ biến dùng để giảm áp suất bên trong bê tông ở nhiệt độ cao là sử dụng các sợi polyme ngắn có nhiệt độ nóng chảy 3 Luan van thấp (thường dưới 250-300°C) để tạo ra các khoảng trống dùng để giải phóng áp suất bên trong bê tông theo Wetzig và cộng sự [9]. Haifeng và Wenwu Lan [10] đã nghiên cứu thực nghiệm trên hiệu suất xấu giữa các mẫu bị biến dạng và bê tông cốt liệu tái chế (RAC) ở nhiệt độ cao, cường độ liên kết tương đối của RAC giảm mạnh khi nhiệt độ dưới 4000C trong khi nhiệt độ tăng trên 5000C thì cường độ liên kết giảm ở tốc độ nhanh hơn. Hai yếu tố chính gây nên sự suy giảm cường độ bê tông là: 1. Sự gia tăng áp suất hơi phát sinh từ sự bốc hơi độ ẩm; 2.
Sự hình thành và phát triển các vết nứt do ứng suất nhiệt chênh lệch giữa các phần khác nhau của bê tông (ví dụ bề mặt và lõi). Vì hàm lượng độ ẩm và cốt liệu khác nhau giữa RAC và NC, nên ảnh hưởng của hai yếu tốt này cũng sẽ khác nhau đối với RAC và NC. Trong nước Lê Anh Thắng và Nguyễn Thanh Hưng [11] đã nghiên cứu cường độ chịu nén của bê tông cốt liệu tái chế và ứng xử của dầm BTCT. Kết quả thử nghiệm được mô phỏng bởi chương trình ATENA để nghiên cứu ứng xử của dầm BTCT sử dụng cốt liệu bê tông tái chế [12].
Phân tích và thí nghiệm cho thấy việc thay thế 20% đá tự nhiên bằng bê tông cốt liệu tái sinh không ảnh hưởng đến khả năng chịu lực và hiệu suất của dầm. Góp phần hoàn thiện kỹ thuật về tính chất của bê tông RAC để áp dụng vào thực tiễn. Ngoài ra, bê tông có thêm thành phần thép sợi (SRFC) sẽ giúp cải thiện đáng kể các tính chất của bê tông: cường độ va đập, giới hạn uốn-kéo, khả năng chống nứt và xuất hiện vết nứt của bê tông. Từ các nghiên cứu ngoài nước và trong nước cho thấy vấn đề nghiên cứu về bê tông cốt thép sử dụng cốt liệu bê tông tái chế còn khá khiêm tốn đặc biệt là trong nước còn có quá ít các nghiên cứu về vấn ảnh hưởng của nhiệt độ đến cường độ của bê tông sử dụng cốt liệu bê tông tái chế (Hình 1-4).
Do vậy, đề tài “Ảnh hưởng của nhiệt độ đến cường độ chịu nén của bê tông và bê tông cốt liệu tái chế cốt sợi” sẽ đi nghiên cứu sâu hơn về sự làm việc của RAC, SFRAC và NC khi tiếp xúc với nhiệt độ cao bao gồm thí nghiệm về tính chất nén, cường độ dư, mô đun đàn hồi, mối quan hệ ứng suất bê tông. Nghiên cứu này nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu để giảm bớt tác động tiêu cực của nhiệt độ lên bê tông RAC, SFRAC và NC. Các kết quả trình bày trong bài viết có giá trị giúp tìm 4 Luan van hiểu sâu hơn về sự làm việc của RAC, SFRAC và NC khi chịu nhiệt, nghiên cứu có thể tham khảo trong việc áp dụng kỹ thuật RAC và SFRAC vào các cấu trúc, kết cấu của công trình. (b) Sàn #2 Hình 1- 4 Thiệt hại sàn do hoả hoạn gây ra 1.
Mục tiêu đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu ứng xử của bê tông, bê tông tái chế và bê tông tái chế có thêm thành phần cốt liệu sợi thép khi tiếp xúc với nhiệt độ cao từ 200 - 400°C. Đánh giá khả năng chịu lực và biến dạng của bê tông RAC, SFRAC và NC nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu để giảm bớt tác động tiêu cực của nhiệt độ lên bê tông. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Là vật liệu vụn bê tông tái chế (thành phần hạt thô, hạt mịn, kết hợp sợi thép), các tính chất của vụn bê tông tái chế, độ bền nén, cường độ dư, mô đun đàn hồi, mối quan hệ ứng suất bê tông ở nhiệt độ cao khi sử dụng vụn tái chế.
Trong nghiên cứu này bao gồm 03 nhóm mẫu theo cốt liệu của bê tông (Hình 1-5): (I) Bê tông thường (NC) (II) Bê tông có cốt liệu tái chế (RAC) (III) Bê tông có cốt liệu tái chế kèm thép sợi (SFRAC) với hàm lượng 0. Mục đích nhằm so sánh sự khác biệt về cường độ của từng nhóm mẫu, từ đó thực hiện 5 Luan van vẽ biểu đồ so sánh cường đồ và đưa ra nhận xét đánh giá. Hình 1- 5 Các mẫu bê tông phân theo loại. Phạm vi nghiên cứu: - Ảnh hưởng của cốt liệu vụn bê tông tái chế đến cường độ bê tông trong và ngoài giới hạn đàn hồi; - Ứng xử của bê tông tái chế, bê tông tái chế kết hợp sợi thép khi chịu nhiệt độ cao trong và ngoài giới hạn đàn hồi.
Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sự làm việc bê tông tái chế khi chịu nhiệt độ cao bằng phương pháp thực nghiệm kết hợp với lý thuyết để so sánh, đánh giá kết quả. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Hoàn thiện thêm lý thuyết về ứng dụng của loại vật liệu tái chế từ vụn bê tông khi chịu lực ở nhiệt độ cao.