Luận văn thạc sĩ kĩ thuật nghiên cứu áp dụng cọc barrette được gia cường bằng phương pháp phụt vữa thân cọc cho việc xây dựng nhà cao tầng ở thành phố hải phòng

Nghiên cứu ứng dụng cọc barrette gia cường bằng phụt vữa cho nhà cao tầng tại Hải Phòng, giải pháp hiệu quả nâng cao sức chịu tải và ổn định công trình.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật

2017

91
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cọc Barrette và phương pháp phụt vữa

Cọc Barrette là một loại cọc đặc biệt được sử dụng rộng rãi trong xây dựng nhà cao tầng và các công trình ngầm. Phương pháp phụt vữa được áp dụng để gia cường thân cọc, tăng khả năng chịu tải và giảm chi phí thi công. Nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng cọc Barrette được gia cường bằng phụt vữa cho các công trình tại Hải Phòng, một thành phố có điều kiện địa chất phức tạp và mực nước ngầm cao.

1.1. Lịch sử và ứng dụng cọc Barrette

Cọc Barrette đã được sử dụng từ những năm 1970 tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là trong các công trình nhà cao tầng có tầng hầm. Tại Việt Nam, công nghệ này bắt đầu được áp dụng từ năm 1990, với các công trình tiêu biểu như Trung tâm thương mại văn phòng 04 Láng Hạ, Hà Nội, và Tòa nhà Vietcombank Tower.

1.2. Phương pháp phụt vữa gia cường

Phương pháp phụt vữa được sử dụng để gia cường thân cọc, giúp tăng sức chịu tải và giảm thiểu các khuyết tật trong quá trình thi công. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả trong điều kiện địa chất phức tạp như tại Hải Phòng, nơi có mực nước ngầm cao và đất yếu.

II. Điều kiện địa chất và thủy văn tại Hải Phòng

Hải Phòng là một thành phố ven biển với địa hình đa dạng, bao gồm địa hình Karst, đồi núi thấp, và đồng bằng. Điều kiện địa chất phức tạp với các lớp đất yếu và mực nước ngầm cao đòi hỏi các giải pháp kỹ thuật đặc biệt trong xây dựng nhà cao tầng.

2.1. Đặc điểm địa hình và địa mạo

Địa hình Hải Phòng được chia thành bốn dạng chính: địa hình Karst, đồi núi thấp, đồi núi sót, và đồng bằng ven biển. Địa hình Karst với các hang hốc đá vôi chiếm diện tích khoảng 200km2, chủ yếu ở bắc Thủy Nguyên và đảo Cát Bà.

2.2. Phân vùng địa chất công trình

Thành phố Hải Phòng được chia thành các miền, vùng, và khu địa chất công trình khác nhau, bao gồm miền Duyên Hải và miền Hà Nội. Các khu vực này có đặc điểm địa chất và thủy văn khác nhau, ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp thi công và gia cường nền móng.

III. Kỹ thuật thi công cọc Barrette và phụt vữa

Kỹ thuật thi công cọc Barrette kết hợp với phương pháp phụt vữa đòi hỏi sự chính xác cao và tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật. Nghiên cứu này đề xuất các giải pháp để hạn chế các sự cố thường gặp như sập thành hố đào, mất nước bentonite, và khuyết tật ở mũi cọc.

3.1. Quy trình thi công cọc Barrette

Quy trình thi công cọc Barrette bao gồm các bước: khoan hố đào, hạ lồng thép, đổ bê tông, và phụt vữa gia cường. Mỗi bước đều cần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo chất lượng và độ bền của cọc.

3.2. Giải pháp hạn chế sự cố

Các sự cố thường gặp trong thi công cọc Barrette bao gồm sập thành hố đào, mất nước bentonite, và khuyết tật ở mũi cọc. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp như sử dụng dung dịch bentonite chất lượng cao, kiểm soát chặt chẽ quá trình đổ bê tông, và áp dụng phương pháp phụt vữa để gia cường thân cọc.

IV. Ứng dụng thực tế tại Hải Phòng

Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp cọc Barrette gia cường bằng phụt vữa cho các công trình nhà cao tầng tại Hải Phòng, bao gồm Tòa nhà SHP 28 tầng và Tòa cao ốc Vinhomes Riverside 45 tầng. Kết quả cho thấy phương pháp này giúp tăng sức chịu tải và giảm chi phí thi công.

4.1. Kết quả thực tế

Các công trình áp dụng phương pháp cọc Barrette gia cường bằng phụt vữa tại Hải Phòng đã đạt được hiệu quả cao, với sức chịu tải tăng đáng kể và chi phí thi công giảm. Điều này chứng tỏ tính khả thi và hiệu quả của phương pháp trong điều kiện địa chất phức tạp.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển

Nghiên cứu khuyến nghị tiếp tục áp dụng và cải tiến phương pháp cọc Barrette gia cường bằng phụt vữa cho các công trình nhà cao tầng tại Hải Phòng. Đồng thời, cần nghiên cứu thêm về các giải pháp kỹ thuật để tối ưu hóa quy trình thi công và giảm thiểu các sự cố.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ kĩ thuật nghiên cứu áp dụng cọc barrette được gia cường bằng phương pháp phụt vữa thân cọc cho việc xây dựng nhà cao tầng ở thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. - Chương 2: Điều kiện địa chất công trình Hải Phòng. - Chương 3: Lý thuyết tính toán và thi công cọc Barrette có phụt vữa thân cọc. - Chương 4: Thực tế áp dụng phương pháp cho các công trình ở Hải Phòng.

- Kết luận và kiến nghị. 5 CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.Tình hình về vấn đề sử dụng cọc Barrette. Công nghệ thi công cọc Barrette đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng từ những năm 1970. ở châu Âu, châu Mỹ và nhiều nước trên thế giới có nhiều công trình nhà cao tầng đều được xây dựng có tầng hầm.

Một số công trình đặc biệt có thể xây dựng được nhiều tầng hầm. Tiêu biểu một số công trình trên thế giới: - Tòa nhà Đại Lỗi Tân Hàng - Trung Quốc - 70 tầng: Hai tầng hầm. - Tòa nhà Chung - Yan - Đài Loan - 19 tầng: Ba tầng hầm. - Tòa nhà Chung - Wei - Đài Loan - 20 tầng: Ba tầng hầm.

- Tòa nhà Cental Plaza - Hồng Kông - 75 tầng: Ba tầng hầm. - Tháp đôi Kuala Lumpur city Centre - Malaysia - 85 tầng: có nhiều tầng hầm. - Tòa thư viện Anh - 7 tầng: Bốn tầng hầm. - Tòa nhà Commerce Bank - 56 tầng: Ba tầng hầm.

- Tòa nhà Đại Lầu Điện Tín Thượng Hải -17 tầng: Ba tầng hầm. - Tháp đôi Kuala Lumpur city Centre-Malaysia - Cao 85 tầng: Cọc barrette, tường barrette, có 5 tầng hầm. Tháp đôi Kuala Lumpur 6 Đặc biệt ở thành phố Philadenlphia, Hoa Kỳ, sô tầng hầm bình quân trong các tòa nhà của thành phố là 7.Tình hình về vấn đề sử dụng cọc Barrette ở Việt Nam. Ở Việt Nam, từ năm 1990 đến nay đã có một số công trình nhà cao tầng có tầng hầm đã và đang được xây dựng: - Trung tâm thương mại văn phòng, 04 Láng Hạ, Hà Nội: tường Barrette có 2 tầng hầm.

- Trung tâm thông tin: TTXVN, 79 Lý Thường Kiệt, Hà Nội: tường Barrette có 2 tầng hầm. - Vietcombank Tower, 98 Trần Quang Khải, Hà Nội: tường Barrette, có hai tầng hầm. - Trung tâm thông tin Hàng hải Quốc tế, Kim Liên, Hà Nội: tường bê tông bao quanh, hai tầng hầm. - Khách sạn Hoàn Kiếm Hà Nội, phố Phan Chu Trinh, Hà Nội: hai tầng hầm.

- Nhà ở tiêu chuẩn cao kết hợp với văn phòng và dịch vụ, 25 Láng Hạ, Hà Nội: tường Barrette, có 2 tầng hầm. - Sunway Hotel, 19 Phạm Đình Hồ, Hà Nội: tường Barrette, có 2 tầng hầm. - Trung tâm thông tin: TTXVN, 79 Lý Thường Kiệt, Hà Nội: Tường Barrette có hai tầng hầm. Trung tâm thông tin: TTXVN - Hacninco - Tower, Hà Nội: tường Barrette, có 2 tầng hầm.

- Khách sạn Fotuna, 6B Láng Hạ, Hà nội: tường Barrette, có 1 tầng hầm. - Everfortune, 83 Lý Thường Kiệt, Hà Nội: tường Barrette, có 5 tầng hầm. - Kho bạc nhà nước Hà Nội, 32 Cát Linh, Hà Nội: tường Barrette, có 2 tầng hầm. Tại thành phố Hồ Chí Minh có những công trình tiêu biểu sau: - Tòa nhà công nghệ cao, thành phố Hồ Chí Minh: tường Barrette, có 1 tầng hầm.

- Tòa tháp đôi Vincom, 191 Bà Triệu, Hà Nội: tường Barrette, có 2 tầng hầm. Tòa tháp đôi Vincom - Cao ốc văn phòng Phú Mỹ Hưng, thành phố Hồ Chí Minh: tường Barrette, có 2 tầng hầm. - Tháp Bitexco, thành phố Hồ Chí Minh: tường Barrette, có 2 tầng hầm. - Harbour View Tower, 35 Nguyễn Huệ, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh: tường Barrette, có 2 tầng hầm.

- Sài Gòn Centre, 65 Lê Lợi, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh: tường Barrette, có 3 tầng hầm. - Sun Way Tower, thành phố Hồ Chí Minh: tường Barrette, có 2 tầng hầm. - Trung tâm thương mại Quốc tế, 27 Lê Duẩn, thành phố Hồ Chí Minh: tường Barrette, có 2 tầng hầm. - Tại Nha Trang cũng có công trình Khách sạn Phương Đông: tường Barrette, có 3 tầng hầm.

Những sự cố thƣờng gặp khi thi công cọc Barrete. *) Sự cố sập thành hố đào: - Là dạng sự cố thường xảy ra đối với các công trình nói chung và cọc Barrete nói riêng, sập thành hố khoan do cấu tạo địa chất, địa tầng do mực nước ngầm. 9 *) Mất nước bentonite: - Hao hụt bê tông lớn do các tầng địa chất kém ổn định hoặc gặp phải hang castơ. *) Sự cố khi khoan, hạ lồng ống thép: a.

Sập thành hố khoan. Cọc ngoạm xiên do gặp phải đá mồ côi. Kẹt bộ dụng cụ ngoạm (cần ngoạm, gầu ngoạm). Sự cố lồng thép bị trồi lên: e.

Sự cố lồng thép bị nén cong vênh : *) Sự cố trong quá trính đổ bê tông: a. Tắc ống đổ, kẹt ống đổ. Nước vào trong ống dẫn. Kẹt ống casing sau khi đổ bê tông đến cao trình thiết kế.

*) Sự cố do thiết bị ngoạm: a. Đứt cáp cần ngoạm. *) Sự cố do con người: a. Không tuân thủ những quy trình kỹ thuật: có thể dẫn đến hỏng máy móc thiết bị, sai tim cọc, chất lượng cọc không đạt yêu cầu.

Quá trình thi công không liên tục: Mang lại hậu quả đào xong phải chờ quá lâu dẫn đến bentonite bị phân rã sập thành hố đào. Gián đoạn do cấp bê tông chậm dẫn đến tắc ống đổ, chất lượng bê tông không đạt. *)Các khả năng gây sự cố: - Sự cố do địa chất phức tạp sẽ gây ra hiện tượng sập thành hố đào, sẽ làm mất nước dung dịch Bentonite hoặc là dung dịch SuperMud. - Sự cố do kỹ thuật thi công: Khi thi công sập thành hố đào, kẹt bộ dụng cụ ngoạm (gầu ngoạm), lồng thép bị trồi lên hoặc rơi lồng thép.

- Sự cố khi ta đổ bê tông cọc: Quá trình thi công đổ bê tông làm tắc ống đổ, kẹt ống, hiện tượng nước vào trong ống,… 10 1. Một số khuyết tật trong cọc Barrete ở nƣớc ngoài và ở Việt Nam. Khuyết tật ở mũi cọc. Những khuyết tật ở mũi cọc thường rất hay xảy ra do bùn khoan lắng đọng ở đáy hố khoan và đất dưới mũi bị xáo động và bị dẻo nhão do bentonite hấp phụ.

Khuyết tật này rất nghiêm trọng đối với cọc được thiết kế làm việc có sự tham gia chịu lực của sức kháng mũi cọc, nhất là cọc có mở rộng chân và có thể đưa tới giảm cường độ nội tại của bê tông mũi cọc hoặc giảm khả năng chịu lực do độ lún nghiêm trọng gây ra. Những khuyết tật này có thể là: * Bê tông mũi cọc xốp ( sũng nước hoặc lẫn nhiều bùn khoan) làm giảm chất lượng bê tông tại mũi cọc. * Giảm sức kháng mũi cọc: do sự tiếp xúc của mũi cọc với đất nền chịu lực bị gián tiếp bởi lớp bùn lắng đọng ở đáy hố khoan hoặc do sự thay đổi thành phần của đất dưới mũi cọc ( bị dẻo nhão do bentonite hấp phụ vào). Khuyết tật ở thân cọc.

Những khuyết tật ở thân cọc chủ yếu là tính không liên tục của thân cọc như: * Thân cọc phình ra hoặc dạng rễ cây ( làm khối lượng bê tông đúc cọc tăng rất nhiều so với khối lượng bê tông tính toán theo lý thuyết ) do sự cố sập thành vách hố đào, hoặc do từ biến của lớp đất yếu dưới tác dụng đẩy của bê tông tươi; * Thân cọc bị co thắt lại ( làm khối lượng bê tông đúc cọc giảm rất nhiều so với khối lượng bê tông tính toán theo lý thuyết) do sự đẩy ngang của đất; * Có hang hốc, rỗ tổ ong trong thân cọc (làm giảm khả năng chịu tải của cọc theo vật liệu) do sự lưu thông của nước ngầm làm trôi cục bộ bê tông tươi, hoặc do bê tông không đủ độ sụt cần thiết; * Bê tông thân cọc bị đứt đoạn bởi thấu kính đất nằm ngang hoặc lẫn bùn đất, lẫn vữa bentonite trong thân cọc do có sự cố sập thành vách trong lúc đổ bê tông, hoặc do nhấc ống đổ bê tông lên quá cao; * Thân cọc tiếp xúc gián tiếp với đất vách bởi lớp áo sét nhão nhớt. Khuyết tật ở mũi cọc. Bê tông đầu cọc bị xốp do bọt tạp chất, xi măng nhẹ nổi lên trên mặt bê tông 11 1. Tình hình về vấn đề sử dụng cọc Barrette ở Hải Phòng.

- Tòa nhà SHP 28 tầng cao 105m, số 12 Lạch Tray: tường Barrette, có 2 tầng hầm. - Tòa cao ốc Vinhomes Riverside Hải Phòng 45 tầng ở Hồng Bàng: tường Barrette, có 2 tầng hầm (Chuẩn bị khởi công). Hải Phòng trong những năm trở lại đây nhờ những chính sách thu hút đầu tư nên mới bắt đầu có những nhà đầu tư xây dựng những dự án cao tầng nên việc ứng dụng cọc Barrette cho nhà cao tầng ở Hải Phòng còn rất mới mẻ, nhất là cọc Barrette có phụt vữa thân cọc để nâng cao sức chịu tải và hạ giá thành. Những vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết.

Việc phát triển nhà cao tầng là xu hướng tất yếu của xây dựng đô thị ở Hải Phòng trong giai đoạn tới vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu áp dụng cọc Barrette được gia cường bằng phương pháp phụt vữa thân cọc cho việc xây dựng nhà cao tầng ở T.P Hải Phòng” là hoàn toàn thiết thực và phù hợp với xu hướng phát triển của Hải Phòng. Để có thể ứng dụng hiệu quả với xu hướng phát triển Hải Phòng ta cần giải quyết những vấn đề cụ thể sau: - Nghiên cứu tài liệu về địa chất thành phố Hải Phòng. - Tham khảo thực tế và phân tích điều kiện các công trình đã được thiết kế và thi công ở Hải Phòng và Việt Nam. - Tìm hiểu về thiết bị máy thi công, công nghệ thi công công trình ngầm trong nước và thế giới.

- Tìm hiểu các biện pháp hạn chế khuyết tật, tăng sức chịu tải cọc Barrette đặc biệt là phương pháp phụt vữa thân cọc. - Những khó khăn và thuận lợi ở hiện tại và tương lai khi ứng dụng phương pháp phụt vữa thân cọc Barrette ở Hải Phòng. 12 Chương 2: ĐIỂU KIỆN ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH HẢI PHÒNG 2. Địa hình, địa mạo.

Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây giáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp tỉnh Thái Bình, phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông. Hải Phòng nằm ở vị trị thuận lợi giao lưu với các tỉnh trong nước và quốc tế thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và đường hàng không. Do có cảng biển, Hải Phòng giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng bắc bộ. Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng là 1503km2 bao gồm cả huyện đảo.

Dân số thành phố là trên 1837000 người, trong đó số dân thành thị là trên 847000 người và số dân ở nông thôn là trên 990000 người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu áp dụng cọc barrette gia cường bằng phụt vữa cho nhà cao tầng tại Hải Phòng là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc ứng dụng công nghệ cọc barrette được gia cường bằng phương pháp phụt vữa trong xây dựng nhà cao tầng tại Hải Phòng. Nghiên cứu này nhấn mạnh hiệu quả của việc sử dụng cọc barrette trong việc tăng cường độ ổn định và khả năng chịu tải của nền móng, đặc biệt trong điều kiện địa chất phức tạp. Phương pháp phụt vữa giúp cải thiện đáng kể độ bền và khả năng chống lún của cọc, mang lại giải pháp tối ưu cho các công trình cao tầng.

Để hiểu rõ hơn về ứng dụng của cọc barrette và phương pháp phụt vữa, bạn có thể tham khảo Luận văn nghiên cứu áp dụng cọc barrette được gia cường bằng phương pháp phụt vữa thân cọc cho việc xây dựng nhà cao tầng ở thành phố Hải Phòng. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các phương pháp gia cường và tính toán kết cấu khác, Hcmute nghiên cứu tính toán cấu kiện bê tông cốt thép theo tiêu chuẩn châu Âu sẽ cung cấp thêm góc nhìn chuyên sâu. Cuối cùng, để tìm hiểu về các rủi ro và giải pháp trong xây dựng nhà cao tầng, Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng nghiên cứu rủi ro trong xây dựng nhà cao tầng là tài liệu hữu ích không nên bỏ qua.