Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tống quan về chất thải rắn 1. Khái niệm chất thải rắn Chất thải rắn là những chất thải ở dạng rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Nghị định số 38, 2015). Về nguồn gốc phát sinh có thé chia CTR thành 6 loại chính gồm: Chất thải ran sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn y tế, chat thải ran đô thị, chất thải ran xây dựng và chat thải rắn nông nghiệp.
Về đặc tính có thé chia CTR thành 3 loại chính: rác tái chế, rác hữu cơ và rác vô cơ. Rác vô cơ là rác không thể tái sử dụng và không thê tái chế, được xử lý bằng phương pháp chôn lap cùng với các loại rác, phé liệu khác. Chat thải hữu cơ (CTHC) là loại chất thải có nguồn gốc từ động vật và thực vật phát sinh từ các công đoạn chế biến thực pham như tôm, cua, cá; từ các phế phẩm nông lâm nghiệp, chăn nuôi như rau, củ, quả, phân lợn, gà. Các chất thải hữu cơ có thể tái chế thành phân vi sinh hoặc có thé ủ sinh học dé sinh ra khí metan dùng cho việc cung cấp năng lượng nhiệt (Nguyễn Trọng Cường, 2019).
Đặc điểm chất thải rắn CTR chứa nhiều thành phần khác nhau, thông thường gồm có: rác thực phẩm, giấy, bao bì carton, túi nilon, nhựa, vải, cao su, đa, 20, thuy tinh, lon đồ hộp, lon nước. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Lâm Minh Triết (2015) thành phần chất hữu cơ thực phẩm, cỏ, lá cây trong nguồn CTR chiếm tỷ lệ khá cao từ 50% — 62%.1 mô tả thành phần CTR tại Hà Nội, Hải Phòng và Tp. Hồ Chí Minh. Thành phan chat thải rắn (ty lệ %) tại một số đô thị ở Việt Nam Thành phân Hà Nội Hải Phòng Tp.
HCM Thực phẩm, cỏ, lá cây 50,27 50,70 62,24 Giấy các loại 2,72 a 0,59 Vai 6,27 273 4,25 Nhựa, cao su 0,71 2,02 0,46 Vỏ nghêu, sò, Ốc, xương 1,06 3,68 0,50 Thủy tỉnh 0,31 0,72 0,02 Xa ban 7,43 8,45 16,04 Kim loai 1,02 0,14 0,27 Các thành phan khó phân loại 30,21 23,9 133 (Nguồn: Lâm Minh Triét, 2015) 1. Các phương pháp xử lý chất thải rắn 1. Phương pháp chôn lấp Xử lý CTR bằng phương pháp chôn lấp được áp dụng pho biến tại Việt Nam. Trong số các bãi chôn lap hiện nay chỉ có khoảng 20% là bãi chôn lắp hợp vệ sinh, còn lại là các bãi chôn lắp không hợp vệ sinh hoặc các bãi tập kết chất thải cấp xã.
Khác biệt về đặc điểm giữa bãi chôn lấp hợp vệ sinh và bãi chôn lấp hở là: đối với bãi chôn lấp hở, rác thải không được xử lý khí thải và nước rỉ rác. Phương pháp này chiếm diện tích lớn, thời gian phân hủy kéo dài, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất khu vực xung quanh do phát tán các khí thải, mùi, nước ri rác. Đối với bãi chôn lap hợp vệ sinh, khu vực được thiết kế đảm bảo yêu cầu về vệ sinh môi trường, có hệ thống thu gom khí thải, nước rỉ rác dé xử lý và bố sung chất khử mùi. Bãi chôn lắp hợp vệ sinh từ đó có thé thu hồi khí Biogas và sử dụng dé phát điện (Nguyễn Quỳnh Huong và ctv, 2020).
Phương pháp thiêu hủy CTR sau khi phân loại được đưa vào lò đốt có buồng đốt sơ cấp (nhiệt độ > 400°C) và thứ cấp dé đốt ở nhiệt độ cao (> 950°C) tạo thành khí cháy và tro xỉ, giảm được 80% — 90% khối lượng chất thải. Ở Việt Nam hiện nay, phần lớn lò đốt được thiết kế, chế tạo trong nước, một số được nhập khẩu từ nước ngoài. Đặc điểm của lò đốt là yêu cầu người vận hành phải có trình độ kỹ thuật phù hợp và yêu cầu giám sát chặt chẽ khí thải sinh ra từ quá trình xử lý (Nguyễn Quỳnh Hương và ctv, 2020). Phương pháp đốt phát điện Lò đốt được trang bị hệ thống trao đổi nhiệt và nôi hơi dé thu hồi nhiệt năng từ việc đốt CTR.
Hơi nước sinh ra được sử dụng dé chạy tua-bin phat điện. Về cơ ban có thể coi nhà máy đốt CTR. phát điện là một nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là CTR (Nguyễn Quỳnh Hương và ctv, 2020).4 Phương pháp khí hóa Khí hóa là công nghệ sản xuất cacbua thông qua việc khí hóa chất hữu cơ thành khí có thể đốt được (CO, H.) và khí bay hơi bằng việc nhiệt phân chat thải ở nhiệt độ 400 — 600°C trong điều kiện không có oxy. Phần rắn còn lại (cacbua) sau khi khí hóa rất giàu cacbon và có thé được sử dụng ở các nhà máy có lò hơi có thé tiếp nhận nhiên liệu rắn.
Nhìn chung, tỷ lệ cacbua trên tổng khối lượng chất thải tiếp nhận là 20 — 30%, phụ thuộc vào thành phần của chất thải tiếp nhận hoặc công nghệ (Nguyễn Quỳnh Hương và ctv, 2020). Phương pháp tái chế làm phân compost Công nghệ tái chế chất thải rắn làm phân compost sử dụng phần chất thải hữu cơ trong chất thải sinh hoạt để chế biến compost; phần chất thải vô cơ và cặn bã khác phải tiếp tục xử lý bằng phương pháp khác. Chế biến compost yêu cầu có công đoạn phân loại. Hiện nay, hầu hết việc phân loại được thực hiện trước khi ủ, phần sau ủ được tiếp tục qua công đoạn sàng, lọc dé thu hồi chế biến compost.
Quá trình không phân loại trước khi ủ thường phát sinh ô nhiễm như mùi hôi, nước rỉ rác (Nguyễn Quỳnh Hương và ctv, 2020). Ở tỉnh Long An, lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị thu gom hàng ngày là 585 tan/ngay, phần lớn đang chuyền đổi sang công nghệ đốt rác phát điện với một phan đang kêu gọi đầu tư cho công nghệ ủ phân tại thị trấn Tân Hưng, huyện Vĩnh Hưng, huyện Mộc Hóa và thị xã Kiến Tường (Sở TNMT Long An, 2020). Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt đang áp dụng tại Việt Nam khá đa dạng chủ yếu như chôn lấp, thiêu đốt, và chế biến phân vi sinh. Phương pháp thiêu đốt giúp giảm nhanh thê tích và khối lượng rác cần xử lý trong thời gian ngắn (80% — 90%), yêu cầu diện tích đất thấp, nhưng chi phí đầu tư và xử lý rất cao.
Trong khi đó, chôn lấp được nhiều đô thị lớn áp dụng do công nghệ vận hành đơn giản, chi phi đầu tư ở mức trung bình và chi phí vận hành thấp, dé dang gia tăng công suất nhưng tiềm ân khả năng gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước trong khu vực bãi chôn lấp. Do đó ứng dụng các quá trình sinh học để xử lý chất thải rắn đang mở ra một hướng công nghệ mới nhiều tiềm năng theo định hướng tái sử dụng chất thải (Nguyễn Thị Kim Thái và ctv, 2020). Hiện trên cả nước có 37 cơ sở áp dụng công nghệ tái chế làm phân compost. Công nghệ này sử dụng phan chất thải hữu cơ dé sản xuất phân hữu cơ; phan chat thải vô cơ và cặn bã khác phải tiếp tục xử lý bằng phương pháp khác (BTN&MT, 2020).
Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á và Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc ở các nước kém phát triển trong khu vực thì hàm lượng chất hữu cơ trong chất thải cao (70% — 80%). Lượng chất thai này có thé giảm thiểu thông qua ủ phân tại chỗ và có nhiều tác dụng đối với môi trường, sinh thái và kinh tế (Nguyễn Trung Dũng, 2013). Tổng quan về chợ đầu mối nông sản Thủ Đức Chợ đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức là một trong ba chợ đầu mối lớn nhất Tp. Hồ Chí Minh.
Khu chợ này nam trên Quốc lộ | tại vi trí cửa ngõ thành phố , thuộc phường Tam Bình, Tp. Chợ được khởi công xây dựng vào năm 2002 với tổng vốn đầu tư 182,4 tỷ đồng do Công ty Cổ phần Phát triển Nhà Thủ Đức làm chủ đầu tư trên quy mô hơn 20 ha. Đây được xem là công trình tiêu biểu được thực hiện theo chủ trương của thành phố nhằm di đời các chợ nhỏ lẻ trong nội thành. Trong đó, theo thống kê thì lượng CTR thải ra hàng ngày tại các chợ đầu mối cũng rất lớn, cụ thể tại là 80 tân/ngày (STN&MT Tp.
Hồ Chí Minh, 2021). Theo thông tin từ công ty Cổ Phan phát triển nhà Thủ Đức, khu nhà lồng chợ A hoạt động từ tháng 10/2003, chợ B hoạt động từ tháng 7/2008, chợ C từ tháng 4/2010. Đến nay toàn bộ ô vựa đã được thuê kín, hoạt động của chợ đã đi vào ôn định và hiệu quả, lượng hàng hóa nhập chợ ngày càng tăng. Trung bình mỗi ngày lượng hàng hóa nhập vao chợ lên đến hơn 2.
Ngoài ra, khi chợ hoạt động cũng đã tạo được công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động trên dia ban quan kể cả số lao động di dời từ các chợ Cầu Muối, Cầu Ông Lãnh. Theo quy hoạch, nhà lồng chợ A là nơi để kinh doanh ngành hàng trái cây và rau (củ, quả) với tổng số ô vựa là 1. Thông tin chỉ tiết được liệt kê ở Bảng 1. Danh mục ngành hàng và phân bồ số ô vựa thực tế tại các khu nhà lồng chợ A,BvàC STT Nhàlồng Sốôvựa Ngành hang Ghi chú 1 Cho A 1.006 Trái cây varau - Bo, lê, bưởi, chuối, (củ, quả) - Hành tím, hành trắng, khoai lang,.
- Ca chua, cà tím,. 2, Cho B 296 Rau (lá, cu, quả) - Cải, xà lach,. - Cà rốt, củ cải trắng, dén,. - Cúc, ly, cam chướng, .394 Theo kêt quả phân loại sơ bộ từ mẫu hỗn hợp, CTR được chia thành hai nhóm chính là CTHC và vô cơ với các tỷ lệ tương ứng được thé hiện tại Bảng 1.
Trong đó, tỷ lệ chất thải hữu cơ chiếm cao nhất (99,4% — 99,7%) còn lại là chất thải vô cơ rất thấp (0,3% — 0,6%). Trong nhóm CTHC, chất thải từ rau chiếm tỷ lệ cao nhất (65,6% — 89%), đây là nhóm chất thải phát sinh nhiều nhất từ quá trình sơ chế ban đầu tại chợ. Các nhóm chat thải còn lại chiếm tỷ lệ thấp (Bảng 1. Thành phần CTR theo nhóm ngành hàng tại chợ đầu mối nông sản Thủ Đức STT Nhóm chính Nhóm phụ Tỷ lệ (%) Tông (%) 1 Chât thải hữu cơ Rau 65,6 — 89,0 2 Củ 3,0—3,4 3 Quả 5,8 — 18,0 99,4 — 99,7 4 La cay 8,0 — 28,7 Bộ Bìa carton, giấy vụn 0,2 - 0,4 6 Chât thải vô cơ Túi ni-long 0,3 — 0,6 0,3 — 0,6 1.