Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của lớp xi măng đất gia cố mặt nền đến sức chịu tải ngang của cọc đứng ứng dụng cho đập trụ đỡ vùng đồng bằng sông cửu long

Luận án tiến sĩ phân tích ảnh hưởng của lớp xi măng đất gia cố đến sức chịu tải ngang của cọc đứng cho đập trụ đỡ vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

205
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đập trụ đỡ và các giải pháp gia tăng sức chịu tải ngang cho móng cọc trong vùng đất yếu

Đập trụ đỡ là một trong những công trình quan trọng trong hệ thống thủy lợi, đặc biệt tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Việc thiết kế và xây dựng đập trụ đỡ cần phải chú trọng đến sức chịu tải của cọc đứng. Trong bối cảnh đất yếu, việc gia cố nền móng là rất cần thiết. Các giải pháp gia tăng sức chịu tải cho móng cọc bao gồm việc sử dụng lớp xi măng đất để cải thiện tính chất cơ lý của nền đất. Nghiên cứu cho thấy rằng việc gia cố này không chỉ giúp tăng cường sức chịu tải ngang mà còn giảm thiểu hiện tượng lún và biến dạng của công trình. Theo các tài liệu nghiên cứu, việc áp dụng công nghệ gia cố nền đất bằng xi măng đất đã được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia, và Việt Nam cũng đang dần tiếp cận công nghệ này.

1.1 Đánh giá chung địa chất vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có địa chất phức tạp với nhiều loại đất yếu như đất bùn và sét. Đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến khả năng chịu tải của các công trình xây dựng. Việc phân tích địa chất là bước đầu tiên trong thiết kế đập trụ đỡ. Các nghiên cứu cho thấy rằng lớp đất yếu có thể làm giảm đáng kể sức chịu tải của cọc đứng. Do đó, việc áp dụng các giải pháp gia cố như lớp xi măng đất là cần thiết để đảm bảo an toàn cho công trình. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc gia cố nền đất có thể cải thiện đáng kể khả năng chịu tải của cọc, từ đó nâng cao hiệu quả của các công trình thủy lợi trong khu vực.

II. Cơ sở khoa học của giải pháp gia cố nền lớp mặt

Giải pháp gia cố nền bằng xi măng đất đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong xây dựng công trình. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức chịu tải ngang của cọc đơn bao gồm độ sâu và diện tích của lớp gia cố. Nghiên cứu cho thấy rằng việc gia cố lớp bề mặt có thể làm tăng đáng kể sức chịu tải của cọc. Phương pháp tính toán cọc đơn chịu tải trọng ngang đã được phát triển để đánh giá hiệu quả của lớp gia cố. Các mô hình toán học được sử dụng để phân tích sự ảnh hưởng của lớp gia cố đến sức chịu tải của cọc. Kết quả cho thấy rằng việc lựa chọn kích thước và chiều sâu của lớp gia cố là rất quan trọng để đạt được hiệu quả tối ưu trong thiết kế.

2.1 Phương pháp tính toán cọc đơn chịu tải trọng ngang

Phương pháp tính toán cọc đơn chịu tải trọng ngang hiện nay chủ yếu dựa trên các mô hình toán học và thực nghiệm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng mô hình đường cong quan hệ p~y có thể giúp xác định chính xác sức chịu tải của cọc trong các điều kiện khác nhau. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng việc gia cố nền bằng xi măng đất có thể làm tăng đáng kể khả năng chịu tải của cọc. Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng cọc được gia cố có sức chịu tải cao hơn so với cọc không được gia cố. Điều này chứng tỏ rằng việc áp dụng công nghệ gia cố là một giải pháp hiệu quả cho các công trình xây dựng trong vùng đất yếu.

III. Nghiên cứu thực nghiệm sự ảnh hưởng của lớp gia cố bằng mô hình vật lý

Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện để đánh giá sự ảnh hưởng của lớp gia cố đến sức chịu tải của cọc. Mô hình vật lý được xây dựng để mô phỏng các điều kiện thực tế của nền đất yếu. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng lớp gia cố bằng xi măng đất có tác dụng tích cực đến sức chịu tải ngang của cọc. Các thông số như độ sâu và diện tích của lớp gia cố được điều chỉnh để tìm ra phương án tối ưu. Kết quả cho thấy rằng việc gia cố không chỉ làm tăng sức chịu tải mà còn giảm thiểu hiện tượng lún của cọc. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế và thi công các công trình thủy lợi tại Đồng bằng sông Cửu Long.

3.1 Kết quả thí nghiệm đối với các loại cọc

Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng các loại cọc khác nhau có sức chịu tải khác nhau khi được gia cố bằng xi măng đất. Cọc vuông và cọc tròn đều cho thấy sự cải thiện đáng kể về khả năng chịu tải khi có lớp gia cố. Các thí nghiệm cũng chỉ ra rằng cọc vuông có sức chịu tải cao hơn so với cọc tròn trong cùng điều kiện gia cố. Điều này cho thấy rằng việc lựa chọn loại cọc phù hợp là rất quan trọng trong thiết kế công trình. Kết quả thí nghiệm sẽ được sử dụng làm cơ sở để điều chỉnh các phương pháp tính toán và thiết kế cho các công trình trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẬP TRỤ ĐỠ VÀ CÁC GIẢI PHÁP GIA TĂNG SỨC CHỊU TẢI NGANG CHO MÓNG CỌC TRONG VÙNG ĐẤT YẾU 1.1 Tổng quan về Đập trụ đỡ 1.1 Giới thiệu công nghệ Đập trụ đỡ Nguyên lý của Đập trụ đỡ là đưa toàn bộ lực tác dụng vào công trình về các trụ riêng biệt, sau đó truyền xuống nền thông qua bệ trụ. Giữa các trụ pin là cửa van điều tiết và kết cấu chống thấm [14], [15],[16].1: Mô hình Đập trụ đỡ Ưu điểm của Đập trụ đỡ là có thể xây dựng công trình ngay trên lòng sông tự nhiên, giảm khối lượng đền bù, giải phóng mặt bằng nên giảm chi phí đầu tư xây dựng và thân thiện với môi trường; Điểm đặc biệt là Đập trụ đỡ có thể xây dựng công trình trong điều kiện địa chất nền yếu, chiều sâu lớp đất yếu lớn như ở các vùng cửa sông ven biển hoặc vùng phù sa cổ; không phụ thuộc vào chế độ dòng chảy trong sông.2 Tình hình nghiên cứu và áp dụng các loại Đập trụ đỡ trên thế giới Từ những năm đầu thế kỷ XX, dạng công trình ngăn sông kiểu Đập trụ đỡ đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và áp dụng vào thực tế. Các công trình có quy mô lớn tập trung ở những nước có nền khoa học và kinh tế phát triển mạnh như Đức, Anh,… Trong đó, tiêu biểu nhất về số lượng và quy mô là các công trình ngăn sông, ven biển của Đức với nhiệm vụ ngăn triều hoặc kiểm soát triều và chống ngập úng. Tùy vào điều kiện cụ thể các nhà khoa học trên thế giới đã áp dụng những kiểu kết cấu và biện pháp thi công khác nhau nhưng điểm chung vẫn là sử dụng nguyên lý tập trung lực lên các trụ độc lập, thi công các trụ và công trình giữa lòng sông.

Dưới đây là một số dự án, công trình tiêu biểu kiểu Đập trụ đỡ đã được xây dựng và đưa vào sử dụng trên thế giới: Đập Ems (Đức): Đập Ems xây dựng trên sông Ems từ năm 1999 đến năm 2002 có nhiệm vụ ngăn triều, thuộc vùng Gandersum, thuộc Bang Lower Saxony, Đông Bắc CHLB Đức. Công trình dài 476m gồm 07 khoang: 05 khoang đập trong đó 04 cửa có khẩu độ 63,5m; 01 khoang thông thuyền cho phép tàu biển đi qua rộng 60m và 01 cửa âu cho giao thông thủy nội địa rộng 50m. Nguyên lý chịu lực của Đập Ems cũng là tập trung lực vào các trụ sau đó truyền xuống nền thông qua hệ thống móng cọc.2: Chi tiết đập Ems luan an 6 Hình 1.3: Tổng thể đập Ems Đập sông Thames (Anh): Đập sông Thames được xây dựng tại Woolwich cách thủ đô London 17km, công trình triển khai thiết kế và thi công từ năm 1974, hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1982. Đập có nhiệm vụ chính là ngăn chặn sóng thần từ biển Bắc đổ vào sông Thames.

Công trình có chiều dài tổng cộng 520m, phần đập gồm 10 khoang: 04 khoang 61m, 06 khoang 31,5m, cửa van dạng trụ xuay, khi đóng cửa cao hơn 20m. Đập sông Thames có nguyên lý chịu lực vào các trụ độc lập.4: Sơ đồ bố trí tổng thể Đập trên sông Thames luan an 7 Hình 1.5: Đập trên sông Thames khi hoàn thành Công trình Marina Barrage – Singapore: Công trình Marina barrage được xây dựng vào đầu năm 2005, hoàn thành tháng 10/2008. Marina barrage được xây dựng trên kênh Marrina có nhiệm vụ giữ ngọt, ngăn nước mặn và tiêu thoát lũ. Đây là hồ chứa nước ngọt đô thị đầu tiên của Singapore, mặt nước có diện tích khoảng 10.

Công trình gồm 9 cửa van thép dài 350m để điều tiết và 7 máy bơm tiêu có lưu lượng 280m3/s. Đây cũng là 1 công trình có nguyên lý chịu lực vào các trụ độc lập.Tổng thể công trình b. Mặt cắt ngang công trình Hình 1.6: Công trình Marrina Barrage – Singapore luan an 8 1.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Đập trụ đỡ trong nước Công nghệ Đập trụ đỡ được Viện Khoa học Thủy lợi nghiên cứu bắt đầu từ năm 1991-1995 trong Đề tài độc lập Quốc gia KC12-10. Cấu tạo và nguyên lý chịu lực của Đập trụ đỡ như hình 1.

Tính đến nay công nghệ Đập trụ đỡ đã ứng dụng để xây dựng rất nhiều công trình ngăn sông trên cả nước và đem lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật to lớn, tiêu biểu như: cống Phó Sinh (Bạc Liêu), cống Hiền Lương (Quảng ngãi), Cống Nhiêu Lộc-Thị Nghè (TP Hồ Chí Minh), Cống Biện Nhị, cống Bào Chấu, cống Vàm Đình (Cà Mau), cống Nhà Mát (Bạc Liêu), cống Bầu Điền (Tiền Giang), cống Hà Giang, cống Kênh Cụt (Kiên Giang), cống Cầu Xe (Hải Dương),…Hiện nay các công trình kiểm soát triều thuộc Dự án Chống ngập TP Hồ Chí Minh đang áp dụng công nghệ Đập trụ đỡ để xây dựng như: Bến Nghé, Tân Thuận, Phú Xuân, Mương Chuối, Cây Khô, Phú Định, quy mô bề rộng thông nước của các công trình từ 40 - 160m; Công trình ngăn mặn giữ ngọt Thảo Long (Thừa Thiên Huế): Công trình ngăn mặn giữ ngọt Thảo Long Xây dựng tại huyện Phú Vang (2006), tỉnh Thừa Thiên Huế với chiều rộng thông nước 472,5m gồm 15 khoang cống, mỗi khoang rộng 31,5m và âu thuyền rộng 8m. Đây là công trình áp dụng công nghệ Đập trụ đỡ và có khẩu độ lớn nhất Đông Nam Á.7: Công trình Ngăn mặn giữ ngọt Thảo Long luan an 9 Cống Cầu Xe (Hải Dương): Cống Cầu Xe thuộc cụm công trình ngăn triều, tiêu lũ Cầu Xe - An Thổ, là cống đầu mối quan trọng của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, thuộc 2 xã Cộng Lạc – Quang Trung, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, năm 2018. Cống được áp dụng công nghệ Đập trụ đỡ, gồm 3 cửa, mỗi cửa rộng 25m (tổng khẩu độ 75m); Cửa van phẳng bằng thép, đóng mở bằng tời thủy lực. Âu thuyền được đặt ở bờ trái, buồng âu dài 85,0 m, rộng 10,0 m; đảm bảo giao thông thủy, tầu thuyền 800 tấn qua lại.

Cánh cửa âu thuyền là loại cửa phẳng bằng thép, đóng mở bằng xi lanh thủy lực. Đường quản lý vận hành: Bằng BTM250, nối từ cống Cầu Xe cũ đến cống Cầu Xe mới, bờ trái dài 180m, bờ phải dài 317m; mặt đường rộng 7,5m; Hình 1.8: Cống Cầu Xe 1.4 Những vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu khi áp dụng Đập trụ đỡ ở ĐBSCL và ở Việt nam Đập trụ đỡ mặc dù đã được nghiên cứu và ứng dụng tại Việt Nam khá lâu tuy nhiên với điều kiện mực nước sâu (>10m) và cột nước chênh lệch lớn (>3m) gây ra lực ngang rất lớn thì việc thiết kế loại công trình này vẫn còn bị luan an 10 khó khăn do khả năng kháng lực ngang bị hạn chế so với công trình truyền thống, nếu đảm bảo sức chịu tải ngang thì dư thừa sức chịu tải đứng. Đối với vùng ĐBSCL lớp đất yếu sâu cũng là một khó khăn khi áp dụng công nghệ Đập trụ đỡ [14] ], [15], [16]. Các biện pháp công trình làm tăng sức chịu tải ngang của cọc móng Đập trụ đỡ hiện nay vẫn thường được áp dụng là bố trí cọc xiên và xiên chéo lớn.

Vì vậy để hoàn thiện lý thuyết tính toán đối với công nghệ cần tiếp nghiên cứu sao cho móng cọc phát huy hết hiệu quả, đặc biệt là các giải pháp làm tăng sức chịu tải trọng ngang cho móng cọc Đập trụ đỡ trên nền đất yếu.2 Đánh giá chung địa chất vùng Đồng bằng sông Cửu long đến khả năng làm việc của móng cọc thường xuyên chịu tải trọng ngang Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 13 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. ĐBSCL có diện tích gần 40 nghìn km2, có hơn 340 km đường biên giới trên bộ giáp Campuchia, là khu vực duy nhất của cả nước tiếp giáp Biển Đông và Biển Tây với bờ biển dài 750 km, chiếm 23% chiều dài bờ biển quốc gia; hơn 360 ngàn km2 vùng biển và đặc quyền kinh tế. Phân bố đất yếu ở ĐBSCL ĐBSCL được bao phủ bởi lớp trầm tích trẻ khá dày, thành phần cấu tạo của lớp này phổ biến là đất yếu: sét yếu, cát chảy, bùn. Phân bố đất yếu ở ĐBSCL theo phương ngang: Theo đặc trựng về địa chất, địa chất công trình, địa chất thủy văn chia năm khu vực đất yếu [2], [24]: Khu vực I: Khu vực đất sét màu xám nâu và xám vàng Khu vực II: Khu vực đất bùn sét xen kẹp với các lớp á sét Khu vực III: Khu vực cát hạt mịn, á cát xen kẹp ít bùn á cát Khu vực IV: Khu vực đất than bùn, sét, bùn á sét, cát bụi, á cát Khu vực V: Khu vực bùn á sét và bùn cát ngập nước luan an 11 Hình 1.9: Bản đồ phân bố các vùng địa chất yếu ĐBSCL 1.

Tính chất cơ lý của các lớp sét yếu và đất bùn 1.1 Tính chất cơ lý của nền đất sét yếu bão hòa nước ở ĐBSCL Tầng trầm tích mới thuộc ĐBSCL là đối tượng nghiên cứu chủ yếu về mặt địa chất công trình. Các lớp đất chính thường gặp là những loại đất sét hữu cơ và sét không hữu cơ có trạng thái độ sệt khác nhau. Ngoài ra, còn các lớp cát, sét bùn lẫn vỏ sò và sạn laterit. Ngay trong lớp đất sét còn gặp các vệt cát mỏng.

Dựa theo hình trụ hố khoan trong phạm vi độ sâu khoảng 30m trở lại của các công trình thủy lợi thuộc các tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu luan an 12 Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Thành phố Hồ Chí Minh. có thể phân chia các lớp đất như sau: - Lớp đất trên mặt: Chiều dày khoảng 0,5÷1,5m, gồm những loại đất sét hạt bụi đến sét cát, có màu xám nhạt đến vàng xám. Có nơi là bùn sét hữu cơ màu xám đen. Lớp này có nơi nằm trên mực nước ngầm, có nơi nằm dưới mực nước ngầm (vùng sình lầy).

- Lớp sét hữu cơ: Nằm dưới lớp mặt, có chiều dày thay đổi từ 3÷4m (vùng Long An), 9÷10m (vùng Thạch An, Hậu Giang) đến 18÷20m (vùng Long Phú, Hậu Giang) và tăng dần về phía biển. - Lớp sét hữu cơ thường có màu xám đen, xám nhạt hoặc vàng nhạt. Hàm lượng hữu cơ thường gặp là 2÷8%, các chất hữu cơ đã phân giải gần hết. Với các lớp gần mặt đất còn có những khối hữu cơ ở dạng than bùn.

Đất rất ẩm thường quá bão hòa nước. Nói chung, lớp đất này thường gặp ở trạng thái dẻo mềm, dẻo chảy đến chảy. Đất chưa được nén chặt, hệ số kẽ rỗng thiên nhiên lớn, dung trọng nhỏ. Sức chống cắt thấp, góc ma sát trong <100, lực dính c<12kPa trong thực tế thường gặp được gọi là lớp “sét bùn hữu cơ”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài nghiên cứu mang tiêu đề "Nghiên cứu ảnh hưởng của lớp xi măng đất đến sức chịu tải cọc đứng cho đập trụ đỡ ở đồng bằng sông Cửu Long" tập trung vào việc phân tích tác động của lớp xi măng đất đến khả năng chịu tải của cọc đứng, một yếu tố quan trọng trong thiết kế và xây dựng các công trình hạ tầng tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cơ chế hoạt động của lớp xi măng đất mà còn đưa ra các khuyến nghị thiết thực cho các kỹ sư và nhà thiết kế trong việc tối ưu hóa thiết kế cọc đứng, từ đó nâng cao độ bền và an toàn cho các công trình.

Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng công nghệ trong xây dựng và vật liệu, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ công nghệ vật liệu chế tạo màng tio2 bằng phương pháp phun plasma, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về công nghệ vật liệu tiên tiến. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa hệ thống định vị tích hợp thị giác lập thể quán tính và gps cũng cung cấp cái nhìn về các hệ thống định vị hiện đại có thể ứng dụng trong xây dựng. Cuối cùng, Nghiên cứu một số vân đề về big data và ứng dụng trong phân tích kinh doanh luận văn thạc sĩ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách dữ liệu lớn có thể hỗ trợ trong việc ra quyết định trong ngành xây dựng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực này.