CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước Khí động lực học là lĩnh vực khoa học nghiên cứu về dòng chảy của chất khí, được nghiên cứu đầu tiên bởi George Cayley vào thập niên 1800. "Khí động học" là một nhánh của động lực học chất lỏng nghiên cứu chuyển động của không khí, đặc biệt là khi nó tương tác với một đối tượng di chuyển. Khí động học đã thường được sử dụng đồng nghĩa với khí động lực, với sự khác biệt là khí động lực áp dụng đối với dòng chảy nén được.
Tìm hiểu về sự chuyển động của không khí xung quanh một đối tượng cho phép tính toán các lực, mô men lực tác động lên đối tượng. Giải pháp cho các vấn đề khí động lực học dẫn đến các tính toán về tính chất khác nhau của dòng chảy, như vận tốc, áp suất, mật độ và nhiệt độ, như là các hàm của không gian và thời gian. Khi hiểu được các tính chất này của chất khí, người ta có thể tính toán chính xác hay xấp xỉ các lực và các mômen lực lên hệ thống dòng chảy. Việc sử dụng khí động học thông qua phân tích toán học, xấp xỉ thực nghiệm và gió đường hầm thử nghiệm là cơ sở khoa học [1, 2, 3].
Khí động học có thể được chia thành hai loại như khí động học bên ngoại biên và khí động học nội biên. Khí động học ngoại biên về cơ bản là nghiên cứu về dòng chảy xung quanh các vật thể rắn hình dạng khác nhau. Đánh giá thang máy, máy bay, dòng chảy của không khí qua một lưỡi tuabin gió hay sóng xung kích hình thành ở phía trước mũi của một tên lửa là ví dụ về khí động học ngoại biên. Khí động học nội biên bao gồm việc nghiên cứu các luồng không khí thông qua một động cơ phản lực hoặc thông qua một đường ống điều hòa không khí [1, 2, 3].
4 Khí động lực học cũng có thể được phân loại theo tỉ số vận tốc của dòng chảy so với vận tốc âm thanh. Môn học được xem là dưới vận tốc âm thanh nếu các vận tốc đều nhỏ hơn vận tốc âm. Khi vận tốc vượt trên vận tốc âm thì được xếp vào vấn đề nghiên cứu siêu âm hay siêu thanh và cực siêu thanh nếu vận tốc nhanh hơn vận tốc âm thanh nhiều lần [1]. Trong một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy, hình dáng hình học có ảnh hưởng lớn đến các đặc tính khí động học tác động lên vật thể chuyển động, đặc biệt là các nghiên cứu đối với các phương tiện giao thông vận tải như tàu thủy, ôtô, máy bay.
Hầu hết các nghiên cứu này được thực hiện nhằm tối ưu hình dáng khí động học cho các đối tượng nghiên cứu để đạt được mục đích tối ưu đặt ra, tối ưu lực khí động, tối ưu xâm thực cánh hay siêu xâm thực cánh. Một số tác giả nghiên cứu về vấn đề giảm lực cản khí động cho tàu chở hàng có thể kể đến như nghiên cứu của nhóm tác giả K. Sugata cùng cộng sự (2013), nhóm tác giả Ngô Văn Hệ cùng cộng sự (2013), Mizutani cùng cộng sự (2013), Ngô Văn Hệ cùng cộng sự (2014, 2015), Nguyễn Văn Cường cùng cộng sự (2017) những nghiên cứu này tập trung nghiên cứu vấn đề ảnh hưởng của hình dáng tàu hàng như thân tàu, thượng tầng tàu và bố trí chung trên tàu đến việc giảm lực cản khí động tác động lên thân tàu. Bằng các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm các tác giả đã đưa ra được một số kết quả về giảm lực cản gió tác động lên tàu thông qua việc bố trí thượng tầng tàu trên boong và đề xuất thượng tầng mới cho tàu có biên dạng khí động giảm lực cản [4-9].
Một số nghiên cứu khác thực hiện nghiên cứu liên quan đến vấn đề ảnh hưởng của hình dáng thân vỏ đến các đặc tính khí động lực học như ô tô như nghiên cứu của các tác giả Chainari cùng cộng sự (2008), Darko cùng cộng sự (2010), các nghiên cứu này cho thấy rõ sự ảnh hưởng của hình dáng xe đến lực khí động học bằng các biện pháp thay đổi hình dáng hình học của thân vỏ xe có thể giúp cải thiện đặc tính khí động học cho xe [10, 11]. Một số nghiên 5 cứu khác của nhóm các tác giả như Lê Thị Thái (2013), Kishinami (2005), Peter (2012) cùng cộng sự, tập trung nghiên cứu các vấn đề về ảnh hưởng của biên dạng hình học cánh và tối ưu biên dạng cánh nhằm tối ưu lực đẩy cho cánh quạt hay khảo sát các hiện tượng xâm thực cánh trong một số điều kiện khảo sát của cánh nghiên cứu [12-14]. Trong nghiên cứu này, tác giả thực hiện việc khảo sát các đặc tính khí động học của một số hình dạng hình học vật thể cơ bản nhằm đưa ra những cơ sở hướng tới tối ưu hình dáng khí động học cho vật thể chuyển động. Từ những kết quả đưa ra về cơ sở tối ưu hình dáng khí động học vật thể, tác giả thực hiện việc ứng dụng để thực hiện cải thiện đặc tính khí động học thân tàu thủy thông qua quá trình thay đổi hình dáng thân tàu hướng tới tối ưu hình dáng khí động học thân tàu.
Lực cản và các thành phần lực cản tàu thủy Trong quá trình hoạt động, chuyển động của tàu phần trên mặt nước, phần trong nước đều có các bề mặt vỏ tàu tiếp xúc với môi trường bao quanh nó. Mặt ướt vỏ tàu tiếp xúc với môi trường nước, phần trên mặt nước tiếp xúc với không khí và bề mặt này chịu tác động của các lực do môi trường gây ra. Lực cản của tàu trong thực tế không thể xác định hoặc đo lường một cách trực tiếp mà thường việc tính toán lực cản của tàu được thực hiện, thu thập số liệu từ thử nghiệm trên các mô hình tàu trong bể thử. Việc xác định lực cản của tàu trong môi trường nước thường phân tích trên các thành phần lực cản độc lập, sơ đồ các thành phần lực cản tàu được thể hiện trong bảng 1.1: Các thành phần lực cản tàu thủy Lực cản toàn bộ RT Lực cản bổ Lực cản vỏ tàu sung RA Lực cản nhớt RV Lực cản sóng RW Lực cản ma sát R f Lực cản hình dáng RP Lực cản sóng RW Lực cản ma sát R f Lực cản dư Rr Lực cản ma sát RF xuất hiện do ảnh hưởng độ nhớt của chất lỏng gây ma sát với vỏ tàu.
Lực cản ma sát chiếm phần lớn tổng lực cản thân tàu, khoảng 80÷90% lực cản nhớt và chiếm khoảng 50÷70% tổng lực cản tàu. Nếu hình dáng tàu càng trơn, dễ thoát nước ảnh hưởng của của hình dáng thân tàu càng nhỏ thì lực cản nhớt hầu như hoàn toàn là lực cản ma sát. Lực cản ma sát chịu ảnh hưởng độ cong dọc và ngang thân tàu. Lực cản hình dáng RV sinh ra bởi ảnh hưởng của lớp biên đối với quy luật phân bố áp suất trên thân tàu, nó phụ thuộc vào các dạng tách lớp biên, mà hiện tượng này lại ảnh hưởng bởi hình dáng thân tàu.
Nếu hình dáng thân tàu càng khó thoát nước thành phần lực cản này càng lớn. Lực cản sóng Rw, khi tàu chuyển động trên mặt thoáng của chất lỏng trọng lực sẽ sinh ra sóng, sóng đó sinh ra lực cản sóng. Lực cản sóng càng lớn khi vận tốc tàu càng lớn. Lực cản toàn bộ của tàu được xác định là tổng của lực cản ma sát RF và lực cản dư R r và các thành phần lực cản bổ sung: RT = RF + Rr + RA (1.1) 7 Trong nghiên cứu tính toán lực cản tàu thủy, lực cản thân tàu còn được phân chia thành 2 thành phần chủ yếu bao gồm: lực cản khí động tác động lên phần thân tàu phía trên mặt nước R air và thành phần lực cản ướt tác động lên phân thân tàu tiếp xúc với nước bao gồm cả lực cản sóng Rwater.
RT = Rwater + R air (1.2) Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu thành phần lực cản khí động tác động lên phần thân tàu phía trên mặt nước Rair nhằm làm giảm thành phần lực cản này tác động lên tàu. Quá trình vận tải đường thủy, lực cản tác động lên tàu như trên đã đề cập đến có thể phân chia thành 2 thành phần chính, một là xuất phát từ phần thân tàu tiếp xúc với môi trường nước gây ra, hai là lực cản do phần thân tàu tiếp xúc với không khí gây ra. Trong luận văn này, tác giả đề cập nghiên cứu lực cản gió hay lực cản khí động tác động lên phân thân tàu phía trên mặt nước. Thành phần lực cản này được gọi là lực cản khí động hay lực cản gió hay lực cản không khí.
Lực này tác động vào tàu có phương bất kỳ phụ thuộc vào hướng gió và có độ lớn phụ thuộc vào diện tích mặt hứng gió của tàu, hệ số cản khí động và bình phương của vận tốc tuyệt đối giữa dòng khí và tàu. Hệ số cản khí động phụ thuộc rất nhiều vào hình dáng khí động, độ bóng của bề mặt vỏ và các góc cạnh của thân tàu. Lực khí động ảnh hưởng lớn đến chất lượng động lực học, an toàn trong quá trình vận tải của tàu. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của lực khí động tác động lên tàu theo quan điểm động lực học, người ta tách lực khí động thành 3 thành phần chính: Thành phần có phương song song với bề mặt đường chính là lực cản gió.
Đây được coi là thành phần chính của lực khí động vì tàu chuyển động theo 8 phương này nên vận tốc tuyệt đối giữa dòng khí và tàu là lớn nhất. Đối với thượng tầng tàu có sự hạ thấp đột ngột phía sau sẽ tạo xoáy lốc cho dòng khí và làm tăng hệ số cản không khí và sẽ có hệ số cản không khí lớn hơn so với các hình dáng thượng tầng khác. Về nguyên tắc này, các nhà thiết kế sẽ tiến tới việc thiết kế để biên dạng tàu có hình dáng khí động nhất có thể. Thành phần lực có phương vuông góc với mặt thoáng sẽ tạo lực nâng nếu hướng của lực lên phía trên.
Điều này làm giảm chiều chìm cho tàu gây ra lắc dọc tàu nếu lực không ổn định. Lực theo phương này phụ thuộc khá nhiều vào bề mặt của phần than tàu tiếp xúc với nước. Thành phần lực có phương ngang sẽ gây mất ổn định hướng cho tàu. Thành phần lực này thường là nhỏ nhất do tính đối xứng của tàu, trừ khi chúng ta đi vào vùng giông bão hay góc hướng gió thay đổi.