Chương 1: Tổng quan về vin đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu dòng chảy ven bờ và én định vật lệu đá hộc bảo vệ chân ke. Chương3: Nghiên cứu đi lên xói lở bờ biển Cát Hải. Chương 4: Đánh giá ôn định ong điều kiện đồng chảy xoái chân cho đề Cit Hải ~ Hải Phòng Sc Iugn và kiến nghị ai liệu tham khảo Phụ lục CHUONG 1.
TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN COU 1. Thực trạng hư hồng công trình dé biển khu vực Cát Hải “Toàn dio Cit Hải có 20/6 km để bao quan, rong đồ có yển đê xung xếu từ Bến Gt đến Hoảng Châu nằm ở phía Nam đảo chịu tác động trực tiếp của sóng, giỏ nơi có dòng cy ven bở mạnh nhất và dáibở dang bị xâm thy. Hình thức kết cấu công trình dé dip bằng đất, riêng đoạn dé Bến Got - Gia Lộc có kết a hoàn toàn bằng đá hộc. Mái để phía biển có ké lit mái bảo vệ ở những đoạn xung ybu thường xuyên chịu tác động của sóng triều.
Ngoài ra, còn có hệ thống 11 mổ hin được xây dưng từ những năm 90 của th kỹ trước, Hiện trọng cụ thé từng đoạn như sau oan Bắt Got- Gia Lộc: Đài 300 m, ea tình định ở tâm + +4 ấm, bỀ rộng mặt để2 mm, hệ số mái đốc phía sông m= 2,5 ~ 3, phia đồng m= “Thân đề bing đã hộc kích thước đó nhỏ, thường xuyên bị sông đỉnh tung. Với iễu cường và gió cắp 5, cắp 6, sông biển đã có thể trần qua mật đề và bất đá ra phía sau. Bãi biển gin chân đ x lờ mạnh cảng làm cho kẻ kêm ổn định. Trong cơn bão 2005, mặt sắt ngang để gin như không còn định hình, mặt đê nhỏ, đá sắp xép tự nhiên ngồn ngang, gin như là bãi đá.
Năm 2008, có dự án cái tạo, nâng cấp cho đoạn đê nảy, nhưng việc nàng cấp tuyển đề biển hiện tại chỉ mang tính tạm thời trong thôi gian chờ đự án cảng Lạch Huyện đi vào khai thác. Kết cấu công trình bằng hình thức kè đá lát khan trong khung 6 BTCT. Trong các thing 5, 6 và đầu thing 7 năm 2011, Cát Hãi có 4 đợt triều cường, và chịu ảnh hưởng của các cơn bão số 2 (cơn bão HAIMA), số 3 (bão Nocleten). với sức gió đo được tại Hòn Dấu là cấp 7, cắp 8, giật cắp 9 vào lúc tri cường đã làm mái kè bị xô sạt nặng.
~ Doan Gia lộc — Văn Chan - Hoàng Châu: Tổng chiều dai khoảng 1.500m, cao trình. “hôm - +4 ẩm; b rộng mặt để Gia Lộc - Van Chin li 2.5 m; đoạn Văn Chin- Hoàng “Châu S m; hệ số mái sông/mái đồng là 3,57 (1,5- Sau khi bị tin phi trong bão 2005 đến nay đoạn để này đã được nâng cắp có th coi là hoàn thiện.2, Giới thiệu các loại kết edu bảo vệ chân kẻ đã áp dụng ở Việt Nam Chống xéi chin ké biển thường gọi là chân khay, Dây là 1 bộ phận cực kỷ quan trong trong công trình kè biển, nhiều trường hợp nó có ý nghĩa thành bại của cả công trình. Chống xôi chân kẻ có nhiều loại được giới su trong 14TCN130-2002: Lãng thể nhô, lãng thể hấp, móng sâu, mồng rộng và vừa sâu và vừa rộng. Nhưng trong thực Ế, trước đây chỉ đơn gi là 1 lãng thể đá ge, sau đó phổ biến sử đụng ống buy 1.
Chân kè bằng lăng thé đá hộc. Đây là loại chân kè phổ biến sử dụng trong thời kỳ trước 1975. Lang thể đá hộc hình thang ngược thường sâu không quả 0.6m, rộng không quá 20m. Bi gia cổ cũng chỉ loi 4 (0.3+0,35)m, nên rất dé bị hur hỏng, dẫn đến sat sụt mái kẻ.
Hiện nay chỉ còn thấy sử dung ở một số kẻ bảo vệ mái dé vùng khuất sóng như một số công trình ở Quảng Ninh, đê phá ở Thừa Thiên Huế 1. Chân kè bằng các loại dng buy Ông buy gia cổ chân kẻ thường là dng buy BT (cổ cốt thép hoặc không cốt thép) hình trụ tồn, lục lang hay hình hộp, một hàng hoặc 2 hing. Đường kính ống buy thường khoảng 1,0m=1,2m, vách diy 0,15m, cao 1,0 + 2,0m. Trong ống buy chứa đá hộc, thường thiết kể có nắp dậy.
Phía ngoài 1g buy thưởng là lãng thé đá hộc hoặc thảm ro đá, sâu 1-2 m, rộng 1-2 m. Chân ke ống buy hình hộp, kẻ Cửa Lé. Chân ké ống buy Bình lục lăng Hình 1. Kết cấu chân kẻ bằng ống buy 1.
Chân kè bằng cọc, cử. “Tại đoạn dé Táo Khoai (Hải Hậu ~ Nam Dịnh), năm 2006 sử dụng loại chân kẻ có kết cấu cọc vuông BTCT có kích thước (35x35x900)em, đồng cách nhau Im, Cao trình đỉnh cọc ở -0,5m. Khoảng giữa 2 cọc được chắn bởi bản BTCT kích thước (200x100x15) cm. "Phía ngoài cọc là rọ đá (200x100x100)em, phía trong là lãng thể đá hộc có sắp xếp, được bảo vệ phía trên bằng loại cấu kiện loại 2 là tắm BTCT M200, kích thước (40x40x40)em, 1.
Chân kè nhô cao CChân kẻ bằng trồng nhô cao, hoặc bằng éng buy. hoặc bằng khối tetrapod. Chân kề nh cao có thé 6 tác dụng giảm sóng, ếu cao hơn sẽ có the dụng ngăn chặn hiện tượng đá quãng do sông vút lên làm hỏng mái ke. “Chân kè Hải Hòa, Hải Hậu.
Chân kè Nghĩa Phúc, Nghia Hung Hình 1. Chân kẻ dạng tường nhô. Phân tích chung về kết cắu gia cổ chân kè 1. Những vẫn đề về thiết KE = Tit cả các loại gia cỗ chân kề trong vùng nghiên cửu đều quá hẹp, không đủ xông, da gia cổ phía ngoài quá nhỏ, do đó chân kẻ là bộ phận dễ bị hư hỏng sớm.
= Cao trình định chân kẻ quá cao, nằm trên mực nước thấp, nên dễ bị moi xối và làm sập mai kẻ. ~ Cc log ng buy hinh dang khác nhau không cải thiện được tinh hình sói chân kè - Một số nơi thiết kế tắm giằng ống buy bằng 46 BT tại chỗ, không cốt thép, thảm 44 ngoài ông buy cũng đỗ vữa BT trực tigp lên thảm là không hợp lý, 1. Những sẵn đỀ về tỉ công - Độ kin giữa các ống buy, cho dù là loại ống ồn, lục lãng. nhiều trường hợp đều Không bảo dim, = Nếu gia cổ chân kề biển bing hệ coe, bản, thi vừa có giá thành cao, vừa khó khăn trong thi công hạ cọe trong điều kiện sóng gid, nhất là ở ving đắt cát 14.
Các nghi cứu trong và ngoi ước về b vệ chân kè 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước “Trong thiết kế công trình biển nói chung cũng như công trình bảo vệ bờ nó riểng một trong những vấn dé quan trọng cần quan tâm đồ là bảo vệ chân công tinh trước diễn biển x6i I bãi và sự xuất hiện các hỗ xói cục bộ trước công trình. X6i trước chân công trình thường xuất hiện dưới tác động của dòng, sóng và tương tác của chúng với công trình. Để đảm bảo công trình làm việc an toàn trước sự xuất hiện xối lờ nêu trên thì kết sấu bảo vệ chân công trình cần phải được thiết kể có kích thước đủ lớn (chiều sâu và phạm vi bảo vệ), Việc lựa chọn kích thước thiết hợp lý hơn nếu nó được da trên cơ sở dự báo kích thước hỗ xói trước chan công trinh, én định của vật liệu bảo vệ chân đê, kẻ biển.
Khi viên vật liệu bao vệ chân mắt n định, thì việc phát triển các. hỗ xdi chân diễn ra mạnh mé hơn đưới các tác động của sing và dng chảy. Mỗi quan hệ giữa dng chảy, bề rộng bãi, ích thước và loại vật liệu bảo vệ chân kẻ luôn là bài toán phức tạp trong kỹ thuật biển. Để nghiên cứu các mỗi quan hệ này trên thể giới có rit nhiều các tác giả di sâu tìm hiểu và chia thành những bai toán nhỏ hơn.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa chân công tinh biển: có thể ké đến những nghiên cứu của: Kraus, 1988; Kraus và MeDougal, 1996; Plant and Gi 1992 về mặt cắt bai biển va ảnh hưởng của nó tới công trình bảo vệ bờ. Nghiên cứu của Miles cet al. Komar va McDougal (1988) đã giảt những bãi biển kể công trình bảo vệ ba có thể bị xói rất lớn và được gọi là ảnh hưởng chân tường đứng (Basco, 2006; Dean, 1987). Các cơ chế có thé với ảnh hưởng.
tường đứng có thể do bẫy bùn cất (Dean, 1987), chặn dong ven bar (Griggs and Tait, 1988) hoặc dòng rip và ding chảy hướng trở lại phía biển (McDougal & nnk. Mặc đủ thực té rằng nhiễu nghiên cứu vé sự ôn định của các loại đã trong bảo vệ đấy dưới dòng nước chảy đã được tiễn hành, kiến thức của chúng ta vẫn côn xa với độ tin cây và sự tiến bộ đạt được, Các vin để như làm thể nào để xác định các ti trọng về thủy lực tác động trên những viên đá trên day biển và lim thé nào để đánh gid sự ổn định của các loại đ là chủ yếu và thách thức nhất trong nghiên cứu độ ôn định viên đá. Thứ nhất, điều quan trọng là các lực vé thủy lực tác dung lên viên đá trên một nén được định lượng diy đủ. Một tham số ổn định - đã thể hiện như một mỗi quan hệ không thứ nguyên giữa tai trọng của nước và cường độ của nên - thường là sử dụng để định lượng ảnh hưởng của các lực 46 lên trên nén, Khi cổ sự dao động lên xuống bắt thường của dòng chảy thì tầm quan trọng đối với sự n định của viên đá, các ảnh hưởng của chúng được đưa vào tỉnh toán, đặc biệt là cho những dòng chảy không đồng nhất (Hoffimans và Ackermann, 1998; Pilarezyk, 2001; Jongeling etal., 2003; Hofland, năm 2005, những người khác).
Trong một vài nghiền cứu có sẵn, các tham số không dn định được chứng minh đầy đủ trong việc định lượng ảnh hưởng của tải trọng lên trên nên với dong cháy không đồng nhất Thứ hai, phương pháp mà sự én định của các loi đá được đánh giá cũng đồng một vai trò quan trọng. Công thức én định có được sử dụng đẻ xác định đá kích thước và trọng. lượng chủ yếu được dựa trên khái niệm về chuyển động của vật liệu đáy (Bulington và Montgomery, 1997). Do tính chất ngẫu nhiên của sự dich chuyển vật liệu đây, một điều kiện ding chảy mạnh mẽ trong đó những viên đá bắt đầu để dịch chuyển thì không thn tai.
Vi vậy, ngưỡng dịch chuyển là một vẫn đề khá chủ quan và phương pháp đánh giá sự 6n định viên đá dựa vào tiêu chuẩn thiết kế bat định (Paintal, 1971; WL | Delft Hydraulics, 1972: Hofland, 2005).