MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Trong giai đoạn đất nƣớc đang trên con đƣờng đổi mới, để thực hiện đƣợc mục tiêu “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất nƣớc”, đƣa nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp vào năm 2020 thì việc phát triển khoa học công nghệ nói chung và khoa học công nghệ trong cơ khí nói riêng càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy các ngành công nghiệp sản xuất tự động phát triển theo. Trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, sự ra đời của máy công cụ điều khiển bằng chƣơng trình số với sự trợ giúp của máy tính, gọi tắt là máy CNC (Computer Numerical Control), đã đƣa ngành cơ khí chế tạo sang một thời kỳ mới, thời kỳ sản xuất hiện đại.
Sử dụng máy điều khiển số CNC cho phép giảm khối lƣợng gia công chi tiết, nâng cao độ chính xác gia công, mở rộng phạm vi công nghệ nhƣ có thể gia công đƣợc các bề mặt phức tạp. Tuy nhiên, còn có những khó khăn về hiệu quả kinh tế khi sử dụng các máy và thiết bị này bởi vì các nguyên nhân sau: - Việc chuyển giao công nghệ chƣa đầy đủ. - Đầu tƣ thiếu đồng bộ, nhập nhiều chủng loại và thế hệ máy khác nhau. - Chƣa chủ động đƣợc về bảo dƣỡng, bảo trì máy.
- Sử dụng chế độ công nghệ chƣa hợp lý. - Do đó hiệu quả khai thác, sử dụng máy còn hạn chế. Với tinh thần đó, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các thông số công nghệ đến chi phí điện năng riêng và chất lượng bề mặt gia công trên máy phay CNC FNC - 125” là cần thiết, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng máy phay CNC trong đào tạo và gia công cơ khí. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học Bằng phƣơng pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý thuyết và thực nghiệm, luận văn xây dựng đƣợc các mô hình toán học mô tả mối quan hệ giữa các thông số công nghệ với chi phí điện năng riêng và độ nhám bề mặt làm cơ sở cho việc lựa chọn chế độ cắt hợp lý khi gia công trên máy phay CNC FNC 125. Ý nghĩa thực tiễn - Làm cơ sở cho việc nghiên cứu các khía cạnh khác của quá trình cắt. - Giúp cho việc lựa chọn các thông số công nghệ tối ƣu khi lập trình gia công trên máy phay CNC, góp phần nâng cao năng suất và hạ giá thành sản phẩm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về công nghệ CNC 1. Giới thiệu chung về công nghệ CNC Vào cuối những năm 40 học viện công nghệ MIT Hoa Kỳ bắt đầu thực hiện đề án nghiên cứu về kỹ thuật điều khiển số. Năm 1953 công bố sáng chế máy phay điều chỉnh theo chƣơng trình số NC. Vào năm 1959 triển lãm máy công cụ tại Paris trƣng bày những chiếc máy phay NC đầu tiên của châu Âu.
Năm 1960 các hệ điều khiển số đƣợc chế tạo tƣơng ứng với trình độ kỹ thuật của các công nghệ bóng đèn điện tử và rơle (cơ/điện/thuỷ lực), máy kích thƣớc lớn, rất nhạy cảm với các điều kiện môi trƣờng khác nhau và giá cả thì rất đắt đỏ. Vì vậy máy không đƣợc sử dụng rộng rãi. Từ sau những năm 1960, bóng đèn điện tử đƣợc thay dần bằng các phần tử bán dẫn rời rạc, đi ốt, và tranzito ( đèn 3 cực), thế nhƣng những linh kiện đơn lẻ vẫn đòi hỏi có thể tích chiếm chỗ đủ lớn, còn rất nhiều mối hàn và các ổ cắm, các ghép nối vừa tốn kém khi chế tạo vừa hạn chế độ tin cậy khi vận hành điều khiển. Những thông tin điều khiển đƣợc ghi trên băng đục lỗ nên dung lƣợng thấp và phải đọc từng bƣớc trong quá trình gia công, khi gia công nhiều chi tiết giống nhau vẫn phải đọc băng đục lỗ cho từng lần gia công.
Khi thay đổi chƣơng trình điều khiển chẳng hạn nhƣ muốn thay đổi chế độ cắt cho phù hợp đòi hỏi phải làm lại băng đục lỗ. Vào những năm 70, kỹ thuật điều khiển số nhanh chóng ứng dụng các tiến bộ của kỹ thuật vi điện tử, vi mạch tích hợp: những hệ NC sử dụng những bản mạch lôgíc đƣợc thay thế bởi các bộ nhớ có dung lƣợng đủ lớn; do nối ghép các cụm vi tính vào hệ điều khiển số mà những phần cứng trƣớc đây đƣợc thay thế bằng những phần mềm linh hoạt hơn. Dung lƣợng bộ nhớ ngày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 càng đƣợc mở rộng tạo điều kiện lƣu giữ trong hệ điều khiển số trƣớc hết là từng chƣơng trình đơn lẻ, sau đó là cả một thƣ viện chƣơng trình lại có thể sửa đổi chƣơng trình đã lập một cách dễ dàng thông qua việc cấp lệnh bằng tay, thao tác trực tiếp trên máy. Cho đến ngày nay các chức năng tính toán trong hệ thống CNC ngày càng đƣợc hoàn thiện và đã đạt đƣợc tốc độ xử lý rất cao do tiếp tục ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật phát triển của các bộ vi xử lý.
Các hệ thống CNC đƣợc chế tạo hàng loạt theo các công thức xử lý đa chức năng dùng cho nhiều mục đích điều khiển khác nhau. Từ chỗ những vật mang tin là những băng đục lỗ, băng từ, đĩa từ tiến tới đĩa compact (đĩa CD) có dung lƣợng nhớ ngày càng mở rộng độ tin cậy và tuổi thọ ngày càng cao. Việc cài đặt các cụm vi tính trực tiếp vào hệ NC để trở thành CNC (Computer Numerical Control) đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng, cho chúng ta có thể ứng dụng đƣợc máy công cụ điều khiển số CNC ngay cả trong các xí nghiệp vừa và nhỏ không có phòng lập trình riêng, điều đó có nghĩa là ngƣời điều khiển máy có thể lập trình trực tiếp trên máy. Những dữ liệu đƣợc nhập vào, nội dung lƣu trữ trên máy, thông báo về tình trạng hoạt động của máy cùng các chỉ dẫn cần thiết khác cho ngƣời điều khiển máy đều đƣợc hiển thị trên màn hình.
Lúc đầu màn hình của các hệ điều khiển số chỉ là màn hình đen trắng với các ký tự chữ cái và con số nay đã sử dụng các màn hình mầu đồ hoạ với độ phân giải cao, biên dạng của chi tiết gia công, chuyển động của dao cụ đều đƣợc hiển thị, có thể mô phỏng chi tiết gia công theo 3 chiều kích thƣớc (3D). Trong những năm gần đây sự bùng nổ của ngành công nghệ thông tin, sự phát triển của công nghệ Hig-Tech ngày càng tạo ra đƣợc những thế hệ máy công cụ điều khiển số ngày càng ƣu việt hơn, đáp ứng đƣợc những yêu cầu cao của thị trƣờng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Ngoài những ƣu điểm cơ bản của máy và công nghệ CNC nhƣ độ chính xác cao của sản phẩm, đáp ứng nhanh về số lƣợng và thích ứng nhanh với thị trƣờng về mẫu mã sản phẩm thì những ƣu điểm nổi bật chỉ có ở máy CNC nữa là phƣơng thức làm việc với hệ thống xử lý thông tin “điện tử-số hoá”, cho phép nối ghép với hệ thống xử lý trong phạm vi toàn xí nghiệp tạo điều kiện mở rộng việc tự động hoá toàn bộ quá trình sản xuất, ứng dụng các kỹ thuật quản lý hiện đại thông qua mạng liên thông cục bộ (LAN) hay mạng liên thông toàn cầu (WAN). Xét về bản chất của các máy điều khiển theo chƣơng trình số, từ các máy NC đầu tiên với bộ xử lý là đƣợc áp dụng công nghệ đèn điện tử, rơle đến các phần tử bán dẫn rời rạc, điốt, và tranzito ( đèn 3 cực ) và sau đó là đã áp dụng các tiến bộ của kỹ thuật vi điện tử, vi mạch tích hợp và siêu vi mạch cũng chỉ là để xử lý các hệ thống dữ liệu đầu vào cho hệ thống điều khiển số.
Máy công cụ điều khiển số 1. Các hệ thống dữ liệu cần nạp cho máy công cụ điều khiển số Một máy công cụ điều khiển số muốn hoạt động đƣợc thì nó yêu cầu phải đƣợc cung cấp các hệ thống dữ liệu, nó đƣợc coi nhƣ một thứ ngôn ngữ chung để giao tiếp giữa ngƣời với máy. Khi ta soạn thảo chƣơng trình cho một hệ thống điều khiển số thì có nghĩa là ta đƣa toàn bộ các thông tin cần thiết để chế tạo một chi tiết xác định trên máy công cụ trở thành dạng có thể hiểu đƣợc cho hệ điều khiển của máy và thông báo cho nó theo một hình thức thích hợp. Thực chất của việc lập trình là thu thập, xử lý và soạn thảo những dữ liệu thông tin yêu cầu.
Các dữ liệu đó bao gồm: - Các thông tin hình học ( đó là các dữ liệu tạo hình hay các số liệu về đƣờng dịch chuyển của dụng cụ cắt trong quá trình gia công ). - Các thông tin công nghệ ( nhƣ số vòng quay trục chính, chiều quay, lƣợng chạy dao, chiều sâu cắt, gọi dao, hiệu chỉnh máy và dao và bơm dung dịch trơn nguội…). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chuyển động của các trục và khái niệm về hệ tọa độ a) Chuyển động các trục Trên thực tế không cần xác định xem phải quay mô tơ bao nhiêu vòng.
Chuyển động của các trục đƣợc điều khiển đơn giản hơn và logic hơn qua các tọa độ. Có hai hệ trục tọa độ hay đƣợc dùng nhất là hệ tọa độ vuông góc (hệ tọa độ Đề các) và hệ tọa độ cực (polar). Trong các máy gia công hệ tọa độ Đề các phổ biến hơn. Chúng ta đã đƣợc học về hệ tọa độ trong trƣờng phổ thông và những kiến thức đó đủ cho chúng ta tiếp tục hành trình tìm hiểu công nghệ CNC.
Điểm khác so với đồ thị của điểm và đƣờng trong tọa độ toán học là với máy CNC, các giá trị tọa độ thực tế không liên tục mà thay đổi theo bƣớc (increment), hay còn gọi là độ phân giải. Ví dụ với hệ đo mét, bƣớc dịch chuyển tối thiểu thƣờng là 1/1000mm, tức 0.001mm, còn trong hệ đo inch, bƣớc dịch chuyển tối thiểu là 0. Với chuyển động quay, bƣớc dịch chuyển của góc quay cho cả hai hệ đo thƣờng đƣợc lấy là 0. Giống nhƣ hệ tọa độ toán học, mỗi trục trong hệ tọa độ của máy CNC đều có điểm gốc.
Ứng với các bài toán kỹ thuật, chúng đƣợc gọi là điểm gốc (hay chuẩn, hay điểm 0) của chƣơng trình, của phôi hay của chi tiết.