Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ HÀN Ở VỊ TRÍ 2G 1. Công nghệ hàn ở vị trí 2G, đặc điểm và ứng dụng Khi kim loại lỏng chuyển dịch từ đầu điện cực vào vũng hàn và bản thân vũng hàn chịu nhiều yếu tố tác động. Trong đó trọng lực là yếu tố có trị số lớn. Căn cứ vào ảnh hưởng của trọng lực tới hình dáng kích thước của bể hàn người ta phân loại mối hàn theo các vị trí khác nhau trong không gian.
Theo tiêu chuẩn của Nga, vị trí mối hàn trong không gian được chia trên 1/2 đường tròn với các vị trí tương ứng: - Vị trí hàn 1G, 1F: Trong khoảng góc độ (0 0 600); - Vị trí hàn 2G, 2F; 3G, 3F trong khoảng (60 0 1200); - Vị trí hàn trần: 4G, 4F trong khoảng (120 0 1800). Vị trí các mối hàn trong không gian theo tiêu chuẩn của Nga (GOST) Theo tiêu chuẩn ISO – AWS quy định các vị trí hàn giáp mối như sau: Hình 1. Vị trí các mối hàn giáp mối trong không gian theo tiêu chuẩn của ISO - AWS Hàn ngang giáp mối (2G) là vị trí hàn khó thực hiện. Khi hàn, dưới tác dụng của trọng lực giọt kim loại từ đầu điện cực đi vào vũng hàn gặp nhiều khó khăn, mối hàn khó hình thành và có xu hướng chảy xệ hoặc mối hàn không ngấu.
5 Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Hàn 2G là vị trí hàn hầu hết trong các kết cấu đều có như đóng tàu, thủy điện, nhiệt điện, khung nhà thép, chế tạo máy bay, tàu hỏa, bồn bể trong dầu khí, hóa chất. Đặc biệt trong dầu khí, vị trí 2G được sử dụng nhiều để chế tạo bồn, bể chứa, đựng dầu, hóa chất. 6 Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Hình 1. Các bồn, bể chứa dầu Hình 1.
Các bồn bể chứa khí 7 Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Hình 1. Các bồn bể chứa hóa chất Vật liệu hàn ở vị trí 2G rất đa dạng, có thể là thép các bon, thép chịu mài mòn, thép có tính chất đặc biệt như chịu nhiệt, độ cứng cao, bền nhiệt, chịu axít, nhôm, đồng, thép không gỉ. 8 Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hàn dưới lớp thuốc ở vị trí hàn ngang trong và ngoài nước 1.
Tình hình nghiên c ứu và ứng dụng trên thế giới: Việc nghiên cứu công nghệ hàn dưới lớp thuốc giáp mối vị trí hàn hàn ngang sử dụng ở nhiều công trình, đặc biệt là trong chế tạo bồn bể chứa. Có rất nhiều hãng của nhiều nước trên thế giới ứng dụng tại nhiều công trình Hình 1. Ứng dụng hàn tự động dưới lớp thuốc để hàn bể chứa 9 Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 1.2 Tình hình nghiên c ứu và ứng dụng trong nước: Quá trình hàn dưới lớp thuốc giáp mối vị trí hàn ngang là một trong những quá trình hàn đặc biệt được sử dụng để nâng cao năng suất và đáp ứng một số yêu cầu đặc biệt của mối hàn ngang. Đây là quá trình hàn đã phát triển trên thế giới.Tuy nhiên, công nghệ này chưa được quan tâm và thực hiện nghiên cứu nhiều ở Việt Nam, trong khi khả năng ứng dụng và hiệu quả kinh tế của công nghệ này mang lại là rất lớn và đa dạng.
Do đó việc nghiên cứu công nghệ hàn dưới lớp thuốc giáp mối vị trí hàn ngang là rất cần thiết và có nghĩa thực tiễn cao, đặc biệt là trong chế tạo bồn chứa hóa chất với các yêu cầu cao vì bề mặt tiếp xúc trực tiếp với hóa chất. Hiện nay, ở Việt Nam công nghệ hàn tự động dưới lớp thuốc hầu hết sử dụng hàn ở vị trí hàn bằng (1G, 1F). Trong khi đó việc ứng dụng hàn giáp mối vị trí hàn ngang dưới lớp thuốc ít được nhà máy, xí nghiệp quan tâm, dẫn đến tình trạng lãng phí trang thiết bị. Một phần là do chi phí chế tạo cơ cấu dưới lớp thuốc phức tạp, có giá thành cao.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ hàn đến sự hình thành mối hàn khi hàn tự động dưới lớp thuốc liên kết giáp mối tư thế hàn ngang” với mục đích thiết kế, chế tạo cơ cấu đỡ thuốc và sử dụng thiết bị hàn tự động dưới lớp thuốc sẵn có tại đơn vị để hàn được liên kết giáp mối vị trí hàn ngang. 10 Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Chương 2 CÔNG NGHỆ HÀN TỰ ĐỘNG DƯỚI LỚP THUỐC 2. Sơ lược về quá trình hàn hồ quang tự động dưới lớp thuốc 2. Sơ đ nguyên l hàn tự động dưới lớp thuốc Hàn hồ quang tự động là phương pháp hàn hồ quang mà các thao tác hàn được thực hiện tự động (nếu chỉ có một số thao tác được thực hiện được gọi là hàn hồ quang bán tự động).
Hàn hồ quang tự động dưới lớp thuốc bảo vệ là phương pháp hàn hồ quang chìm, quá trình hàn nóng chảy do hồ quang cháy giữa dây hàn và vật hàn dưới một lớp thuốc bảo vệ. Công nghệ hàn hồ quang dưới lớp thuốc là quá trình hàn điện nóng chảy, nguồn nhiệt do hồ quang điện sinh ra giữa điện cực hàn (dây hàn, băng hàn) và vật hàn (gọi theo tiếng Anh là SAW (Submerged Arc Welding). Nhiệt lượng sinh ra do hồ quang điện làm nóng chảy kim loại điện cực và kim loại cơ bản và thuốc hàn, tạo thành vòm xỉ bảo vệ vùng hồ quang và vũng hàn khỏi sự xâm nhập và ảnh hưởng có hại của môi trường khí quyển xung quanh (nên còn gọi là phương pháp hàn hồ quang ngầm). Sơ đồ nguyên lý quá trình hàn tự động dưới lớp thuốc 11 Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Nguồn nhiệt của hồ quang hàn làm mép hàn, dây hàn và một phần thuốc hàn sát hồ quang bị nóng chảy tạo thành vòm hồ quang vòm xỉ và vũng hàn.
Dây hàn được đẩy vào vũng hàn bằng một cơ cấu cấp dây với tốc độ phù hợp với tốc độ nóng chảy của nó và đảm bảo duy trì hồ quang cháy ổn định. Khi hồ quang hàn di chuyển theo hướng hàn kim loại lỏng trong vũng hàn sẽ nguội và kết tinh tạo thành mối hàn. Trên mặt vũng hàn và phần mối hàn kết tinh hình thành một lớp xỉ có tác dụng tham gia vào các quá trình luyện kim khi hàn, bảo vệ và giữ nhiệt cho mối hàn và sẽ tách khỏi mối hàn sau khi hàn. Phần thuốc hàn chưa bị nóng chảy có thể được sử dụng lại nhờ bộ phận thu hồi và sàng lọc thuốc hàn.
Theo mức độ tự động của các chuyển động cấp dây hàn, dao động điện cực và chuyển động theo đường hàn có thể chia thành hàn tự động và bán tự động dưới lớp thuốc. Các nguyên công cơ bản của quá trình công nghệ hàn là: gây hồ quang, dịch chuyển điện cực dọc theo trục mối hàn để hàn hết chiều dài mối hàn. Những nguyên công này khi hàn tự động được thực hiện bằng máy. Đặc điểm của quá trình hàn h quang dưới lớp thuốc và ứng dụng Sự phân bố của nguồn nhiệt: Trên hình 2.2 dưới đây là sơ đồ cân bằng nhiệt khi hàn dưới lớp thuốc.
So với hàn hồ quang tay, có sự khác biệt đáng kể trong lượng nhiệt truyền vào kim loại cơ bản. Một phần thuốc hàn không sử dụng hết sẽ được tái sử dụng thông qua hệ thống thu hồi thuốc hàn. Hệ thống điều khiển đảm bảo cấp để dây hàn xuống vùng hồ quang thông qua cơ cấu cấp dây hàn. Sơ đồ cân bằng nhiệt khi hàn dưới lớp thuốc 12 Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Với phương pháp hàn tự động dưới lớp thuốc, các công đoạn sau đây đều được tự động hóa: việc cấp thuốc hàn xuống vùng phía trước hồ quang, việc cấp dây hàn xuống đầu hàn và việc điều chỉnh chiều dài hồ quang và dao động ngang của hồ quang (nếu cần).
Phạm vi ứng dụng của hàn hồ quang dưới lớp thuốc: - Ứng dụng để hàn các kết cấu thép dạng tấm, vỏ kích thước lớn, các dầm thép có khẩu độ và chiều cao, các ống thép có đường kính lớn, các bồn, bể chứa, bình chịu áp lực trong nhiều lĩnh vực công nghiệp. - Phạm vi ứng dụng để hàn các mối hàn ở tư thế hàn bằng, hàn góc, mối hàn ngang với các đường hàn có chiều dài lớn và có quỹ đạo không quá phức tạp, nếu chi tiết hình trụ thì đường kính không quá nhỏ. Ưu nhược điểm của phương pháp hàn tự động dưới lớp thuốc: Ưu điểm chung của hàn tự động dưới lớp thuốc: Môi trường hồ quang hàn cháy ngầm dưới lớp thuốc trong vòm xỉ bảo vệ vùng hồ quang hàn và vũng hàn khỏi tác dụng có hại của môi trường xung quanh. Hồ quang tập trung và nhiệt độ cao cho phép hàn với tốc độ lớn và có thể hàn những chi tiết có chiều dày từ vài mm cho đến hàng trăm mm mà không cần phải vát mép, tiết kiệm kim loại và sức lao động chuẩn bị mép hàn.
Chất lượng kim loại mối hàn cao do vùng hàn được bảo vệ tốt khỏi tác dụng của oxi và nitơ trong khí quyển xung quanh. Kim loại mối hàn đồng nhất về thành phần hóa học, do khả năng tinh luyện kim loại mối hàn tốt hơn. Mối hàn có hình dạng đẹp, đều đặn, ít bị các khuyết tật do tự động hóa. Giảm tiêu hao vật liệu (dây hàn), không bắn tóe kim loại, nên hệ số đắp cao, ít tổn thất.
Năng suất hàn cao. 13 Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Điều kiện làm việc tốt do hồ quang kín không làm hại mắt và da của thợ hàn. Lượng khí thải ít, chỉ tiêu vệ sinh môi trường tốt. Tốc độ đắp và tốc độ hàn cao.
Có năng suất cao hơn từ 5 ÷ 10 lần so với hàn hồ quang tay (dòng điện hàn và tốc độ hàn cao hơn, hệ số đắp lớn). Vùng ảnh hưởng nhiệt nhỏ, ít biến dạng sau khi hàn Dễ cơ khí hóa và tự động hóa quá trình hàn. Nhược điểm của hàn tự động dưới lớp thuốc: Đòi hỏi kim loại cơ bản và vật liệu hàn phải sạch hơn so với hàn hồ quang tay. Chuẩn bị trước khi hàn công phu hơn.
Không thể quan sát trực tiếp vũng hàn. Chỉ hàn được ở tư thế hàn sấp, với các đường hàn có hình dạng tương đối đơn giản (thẳng, tròn quay). Thiết bị có giá thành cao. Thiết bị hàn hồ quang tự động dưới lớp thuốc 2.