PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tên đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của chế độ cắt tới chất lƣợng bề mặt khi tiện tinh thép 9XC bằng dao hợp kim cứng phủ CVD” 2. Giới thiệu Trong ngành công nghiệp gia công cơ khí, chất lƣợng bề mặt là một chỉ tiêu đặc biệt quan trọng trong đánh giá, nghiệm thu sản phẩm.Vì nó ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng làm việc, độ bền, độ bền mỏi cũng nhƣ tuổi thọ của chi tiết máy. Để đạt đƣợc chất lƣợng bề mặt theo yêu cầu, sau khi gia công cứng thƣờng có công đoạn mài, đánh bóng.
Việc làm này tốn khá nhiều thời gian và công sức. Nâng cao chất lƣợng bề mặt sau khi gia công cứng có thể dẫn đến giảm thời gian, thậm chí loại bỏ đƣợc công đoạn này Tiện cứng là nguyên công tiện các chi tiết đã qua tôi (thƣờng là thép hợp kim) có độ cứng cao khoảng từ 40 – 60 HRC đƣợc sử dụng rộng rãi trong công nghiệp ô tô, chế tạo bánh răng, vòng ổ, dụng cụ, khuôn mẫu vv… Tiện cứng đƣợc sử dụng thay mài khi gia công chính xác các chi tiết máy có tỉ số trên đƣờng kính nhỏ, các chi tiết có hình dạng phức tạp và không nhất thiết phải sử dụng dung dịch trơn nguội. Tiện cứng cho độ chính xác cao và nhám bề mặt tƣơng đƣơng với mài nhƣng tiện có khả năng tạo nên lớp bề mặt có ứng suát dƣ nén làm tăng tuổi thọ về mỏi của chi tiết máy trong các tiếp xúc lăn khi sử dụng, cho năng suất cao hơn mài với đầu tƣ ban đầu thấp hơn nhiều. Tiện cứng thƣờng dùng trong nguyên công tiện tinh với độ chính xác ngang mài nên các yêu cầu về độ chính xác, độ cứng vững của hệ thống công nghệ rất khắt khe.
Việc áp dụng tiện cứng thay cho mài đang trở nên khá phổ biến trên thế giới bởi những ƣu điểm nổi bật của nó, nhất là hiện nay vấn đề môi trƣờng đang đƣợc sự quan tâm đặc biệt của toàn thế giới. Ở nƣớc ta, tiện cứng đã và đang đƣợc áp dụng và phát triển khá mạnh, các chi tiết nhƣ con lăn trong các dây truyền cán thép, chày cối dập thuốc, vòng ổ… cũng đã đƣợc gia công lần cuối bằng tiện cứng thay cho mài. Vì những lý do trên trong gia công lần cuối so với mài, tiện cứng ngày càng đƣợc các nhà sản xuất yêu thích hơn 2 Những kết quả nghiên cứu đƣợc công bố gần đây trên các tạp chí khoa học cho thấy việc nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu ảnh hƣởng của các thông số cắt, chế độ cắt đến quá trình tiện cứng, ảnh hƣởng của độ cứng dao đến nhám bề mặt và lực cắt khi tiện. Nghiên cứu ảnh hƣởng của chế độ cắt đến chất lƣợng bề mặt nhƣ thế nào khi tiện tinh thép 9XC ( Nhám bề mặt, mòn dụng cụ cắt ) khi gia công tiện cứng bằng dao hợp kim cứng phủ CVD , nhằm tìm ra chế độ cắt hợp lý để chất lƣợng bề mặt đạt tối ƣu sẽ tiếp tục đóng góp thêm các kiến thức vào việc nghiên cứu quá trình tiện cứng.
Thép 9XC là một loại vật liệu có nhiều ƣu điểm đƣợc dùng rộng rãi nhất để chế tạo dụng cụ cắt với vận tốc thấp nhằm thỏa mãn các yêu cầu về khả năng làm việc đang là yêu cầu cần thiết của các nhà sản xuất. Xác định chế độ cắt khi tiện tinh thép 9XC phụ thuộc vào độ cứng vững của hệ thống công nghệ, công suất của máy, phạm vi làm việc của dụng cụ cắt và độ bóng yêu cầu của chi tiết gia công. Để nghiên cứu và xác định đƣợc chế độ cắt hợp lý ta phải thực hiện bằng phƣơng pháp thực nghiệm bao gồm hàng loạt các thí nghiệm đƣợc lặp lại nhiều lần trong điều kiện không đổi để có khả năng ghi nhận kết quả. Điều kiện thí nghiệm đƣợc xác định bằng những yếu tố không phụ thuộc.
Trong đề tài nghiên cứu của luận văn tác giả đề cập đến các yếu tố nghiên cứu ảnh hƣởng của vận tốc cắt, lƣợng chạy dao, ảnh hƣởng tới đối tƣợng nghiên cứu là độ nhám bề mặt sau khi gia công và mòn dụng cụ cắt. Xuất phát từ những lý do trên tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của chế độ cắt tới chất lƣợng bề mặt khi tiện tinh thép 9XC bằng dao hợp kim cứng phủ CVD”. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá ảnh hƣởng của chế độ cắt (s,v,t) tới chất lƣợng bề mặt ( đánh giá thông qua độ nhám bề mặt, mòn dụng cụ cắt ) khi tiện tinh thép 9XC bằng dao hợp kim cứng phủ CVD. Qua đó đƣa ra đƣợc bộ thông số chế độ cắt thích hợp khi tiện cứng thép 9XC để đạt chất lƣợng bề mặt theo yêu cầu.
Dự định kết quả. Đƣa ra đƣợc bộ thông số chế độ cắt thích hợp khi tiện cứng thép 9XC để đạt chất lƣợng bề mặt theo yêu cầu, là một loại thép có nhiều ƣu điểm đƣợc dùng rộng rãi nhất để chế tạo dụng cụ cắt với vận tốc thấp. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu thực nghiệm để xác định chất lƣợng bề mặt khi thay đổi chế độ cắt trong gia công tiện tinh thép 9XC bằng dao hợp kim cứng phủ CVD trong các khoảng thời gian khác nhau. Xử lý các số liệu thực nghiệm để tìm chế độ cắt tối ƣu nhằm đạt đƣợc chất lƣợng bề mặt theo yêu cầu.
Các công cụ, thiết bị nghiên cứu * Mẫu thí nghiệm: Phôi thép 9XC tôi thể tích độ cứng đạt 52-55HRC * Máy tiện Quick Turn Smark 200- Mazak * Máy đo độ nhám Mitutoyo – SJ 210 * Kính hiển vi điện tử SEM * Dao tiện gắn mảnh hợp kim cứng phủ CVD * Dụng cụ do kích thƣớc : - Thƣớc cặp 1/50 L150 Mitutoyo, độ phân giải 0,02mm - Pan me 25-50 Mitutoyo, độ phân giải 0,01mm 4 Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ TIỆN CỨNG VÀ DỤNG CỤ CẮT PHỦ BAY HƠI 1. Tổng quan về tiện cứng 1. Đặc điểm của quá trình tạo phoi khi tiện cứng , kích thƣớc và độ bóng bề mặt theo động: - Chuyển động cắt chính (chuyển động làm việc): khi tiện đó là chuyển động quay tròn của phôi.
Khi tiện đó là chuyển động tịnh tiến dọc của dao khi tiện mặt trụ. tạo ra trong lớp kim loại bị cắt một ứng suất lớn hơn sức bền của vật liệu bị gia công. , độ cứng, mức độ biến dạng và cấu tạo phoi chứng tỏ rằng lớp kim loại bị cắt thành phoi đã chịu một ứng suất nhƣ vậy. Sơ đồ hóa miền tao phoi của công cắt, độ mòn của dao và chất lƣợng bề mặt gia công phụ thuộc rõ rệt vào công theo mặt trƣớc.
Khi dao tiếp tục chuyển động trong vật liệu gia công phát sinh biến dạng đàn hồi, 5 biến dạng này nhanh chóng chuyển sang trạng thái biến dạng dẻo và một lớp phoi có chiều dày Ap thành từ lớp kim loại bị cắt có chiều dày a, di chuyển dọc theo mặt trƣớc của dao. Các dạng phoi Tuỳ theo vật liệu của chi tiết gia công, thông số hình học của dụng cụ cắt, chế độ cắt phoi cắt tạo ra có nhiều hình dạng khác nhau (hình 1. Dựa vào các dạng phoi có thể đánh giá đƣợc chất lƣợng bề mặt chi tiết gia công. Có 3 dạng phoi chủ yếu: * Phoi xếp: Có dạng từng đốt xếp lại, mặt phoi đối diện với mặt trƣớc của dụng cụ cắt thì rất bóng, mặt kia có dạng răng cƣa (hình 1.
Phoi xếp xuất hiện khi gia công vật liệu dẻo (thép, đồng thau.) ở tốc độ cắt thấp, chiều dầy cắt lớn, góc cắt lớn (góc trƣớc nhỏ). Khi tạo thành phoi xếp kim loại bị biến dạng rất lớn. * Phoi dây: Có dạng kéo dài liên tục mặt phoi đối diện với mặt trƣớc của dụng cụ cắt nhẵn bóng, mặt những phần tử riêng biệt có hình dáng khác nhau, không liên kết hoặc liên kết yếu với nhau (hình 1. Phoi vụn có đƣợc khi gia công vật liệu giòn (gang, đồng thau cứng.), bề mặt chi tiết gia công có cấu tạo gần giống nhƣ bề mặt kim loại bị phá huỷ giòn, chất lƣợng bề mặt rất thấp.kia hơi gợn (hình 1.
Ở phoi dây khó quan sát mặt trƣợt hơn phoi xếp, điều đó chứng tỏ biến dạng dẻo khi tạo thành phoi dây ít hơn khi tạo thành phoi xếp do đó cho chất lƣợng bề mặt chi tiết gia công cao hơn. Phoi dây đƣợc tạo thành khi gia công vật liệu dẻo ở tốc độ cắt cao, chiều dầy cắt nhỏ. * Phoi vụn: Phoi gồm những phần tử riêng biệt có hình dáng khác nhau, không liên kết hoặc liên kết yếu với nhau (hình 1. Phoi vụn có đƣợc khi gia công vật liệu giòn (gang, đồng thau cứng.), bề mặt chi tiết gia công có cấu tạo gần giống nhƣ bề mặt kim loại bị phá huỷ giòn, chất lƣợng bề mặt rất thấp.: Các dạng phoi Hiện tƣợng lẹo dao Hiện tƣợng: Trong quá trình cắt kim loại, ở điều kiên cắt gọt nào đó, đặc biệt là trong quá trình cắt vật liệu dẻo tạo ra phoi dây.
Trên mặt trƣớc của dao kề ngay lƣỡi cắt chính xuất hiện những lớp vật liệu có cấu trúc và cơ lý tính khác hẳn với vật liệu của chi tiết gia công và vật liệu làm dao, gắn chặt vào lƣỡi cắt. Hiện tƣợng này gọi là hiện tƣợng lẹo dao, khối kim loại đó gọi là khối lẹo hay lẹo dao. Lẹo dao có hình dạng nhƣ hình 1.3: Hiện tượng lẹo dao 7 Nghiên cứu của Williams và Rollason chứng tỏ lẹo dao chỉ xuất hiện khi cắt vật liệu có hai pha trở lên mà không xuất hiện khi cắt kim loại nguyên chất hay hợp kim một pha. Sự hình thành của lẹo dao chứng tỏ có liên quan mật thiết đến cấu trúc tế vi của vật liệu.
a, Sơ đồ hình thành bề mặt gia công và phoi khi cắt có lẹo dao b, Sơ đồ lý tưởng “Flow zone” trên mặt trước của dụng cụ Theo Trent [22] khi cắt ở chế độ cắt cao “Flow zone” đƣợc hình thành trên mặt trƣớc (Hình 1. Lớp cuối cùng của phoi dừng hẳn trên hầu hết diện tích tiếp xúc của mặt trƣớc còn các lớp tiếp theo biến dạng dẻo tạo thành vùng biến dạng thứ hai. Đặc điểm của quá trình tạo phoi khi tiện cứng Trong tiện cứng, quá trình biến dạng trong vùng tạo phoi diễn ra rất phức tạp, chủ yếu do độ cứng của vật liệu gia công (sau khi tôi) nên giải pháp tốt nhất vẫn là sử dụng mảnh dao có độ cứng, khả năng chịu nhiệt cao. Tiêu biểu cho nhóm này là các mảnh CBN, PCBN, dao hợp kim cứng phủ CVD, PVD… Theo Poulachon [15] và đồng nghiệp chỉ ra rằng thƣờng có hai cơ chế tạo phoi khi gia công thép tôi.