CHƯƠNG 1 Tổng quan về bôi trơn làm nguội tối thiểu sử dụng dung dịch Nanofluid và ứng dụng trong gia công vật liệu cứng 1. Bôi trơn làm nguội tối thiểu 1. Khái niệm Bôi trơn làm nguội tổi thiểu (Minimum quantity lubrication – viết tắt là MQL) đã được nghiên cứu và ứng dụng khá rộng rãi trong công nghệ gia công cắt gọt để nâng cao hiệu quả của quá trình cắt gọt. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bản chất của MQL là đưa một lượng dung dịch trơn nguội hạn chế (tối thiểu) với lưu lượng 5÷500ml/giờ (0,08 ÷ 8 ml/phút) [25] trực tiếp vào vùng cắt dưới dạng sương mù hoặc dưới dạng dòng tia chất lỏng áp lực cao.
Khái niệm MQL được đề xuất trong những năm 1990 [12] và là một giải pháp thay thế cho hệ thống gia công khô và tưới tràn. Giải pháp này ngoài việc nâng cao hiệu quả của quá trình bôi trơn làm nguội còn góp phần làm giảm chi phí gia công, thân thiện với môi trường do sử dụng lượng dung dịch tối thiểu và do không có dung dịch thải vào môi trường. Những thông số cơ bản của công nghệ MQL ảnh hưởng đết quá trình và kết quả gia công gồm: loại dung dịch trơn nguội, lưu lượng áp suất phun, phương pháp phun (tưới) dung dịch vào vùng cắt (dạng sương mù hay chùm tia chất lỏng), vị trí đặt vòi phun (vào mặt trước hay mặt sau của dao,v.), khoảng cách phun, phương pháp gia công (cắt hở, nửa kín hay cắt kín),v. Để đưa dung dịch trơn nguội (DDTN) vào vùng cắt thường sử dụng một trong 02 phương pháp: - Phun dung dịch trực tiếp vào vùng cắt dưới dạng “sương mù”: Thực chất là dung dòng khí áp lực cao trộn với DDTN dưới dạng “sương mù” để đưa vào vùng cắt.
Sơ đồ nguyên lý và đầu phun tạo sương mù cho ở hình 1. Đầu phun Noga tạo sương mù - Phun dung dịch trực tiếp vào vùng cắt dưới dạng dòng tia chất lỏng áp lực cao: Thực chất dùng bơm Piston (bơm điện hoặc bơm khí nén) tạo dòng tia chất lỏng áp lực cao. Kết cấu bơm Piston cho ở hình 1.2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đầu phun Pulsomat P10 dùng nguồn b.
Đầu phun Pulsomat P25 dùng nguồn năng lượng điện năng lượng khí nén Hình 1. Kết cấu phun tạo dòng tia chất lỏng áp lực cao 1. Ưu nhược điểm Ưu điểm: Do dung dịch được đưa trực tiếp vào vùng cắt nên có các ưu điểm được đề cập tới trong tài liệu [10, 12, 15, 16, 28]. - Hiệu quả của quá trình bôi trơn làm nguội cao, ma sát trong vùng cắt giảm; nhiệt cắt, lực cắt cắt giảm; - Độ mòn của dụng cụ cắt giảm, tuổi bền của dụng cụ tăng, chất lượng bề mặt gia công, chất lượng sản phẩm tăng; - Tiết kiệm dung dịch trơn nguội (lưu lượng tưới 5÷500ml/giờ (0,08÷8 ml/phút)); - Môi trường làm việc sạch, phoi sạch, không có dung dịch trơn nguội thải vào môi trường nên không gây ô nhiễm môi trường; - Tiết kiệm chi phí do tiết kiệm được dung dịch trơn nguội và tiết kiệm được chi phí xử lý chất thải công nghiệp.
Nhược điểm: - Khó vận chuyển phoi ra khỏi vùng gia công. - Nhiệt độ chi tiết cao. Phạm vi ứng dụng MQL được sử dụng cho hầu hết các phương pháp gia công bằng dụng cụ cắt có lưỡi cắt xác định. Ngoài ra, MQL còn được sử dụng đối với một số phương pháp gia công mà phương pháp tưới tràn không sử dụng được như khi tiện cứng, phay mặt phẳng bằng dao phay mặt đầu gắn mảnh HKC, v.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Dung dịch bôi trơn dung trong MQL Các loại dầu sử dụng trong công nghệ MQL cần phải có đặc tính bôi trơn phù hợp vì lượng sử dụng rất ít. Ngoài ra, loại dầu sử dụng cũng cần đảm bảo được tính không độc hại với người sử dụng và gây ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, các loại dầu thực vật được xem như phù hợp nhất với công nghệ MQL.
Dầu thực vật có thể phân hủy sinh học tự nhiên và thường có khối lượng phân tử cao hơn so với dầu khoáng thông thường, điều này giúp cho dầu thực vật có đặc tính bôi trơn vượt trội. Tuy nhiên, trong sản xuất thực tế thời gian sử dụng và tính ổn định của dầu theo thời gian là những vấn đề được quan tâm. Vì dầu thực vật có thời gian sử dụng hạn chế do thủy phân và ô xy hóa, do vậy gần đây các loại dầu mới có nguồn gốc từ dầu thực vật được phát triển để cải thiện tính ổn định được sử dụng trong công nghệ MQL. Hầu hết các loại dầu được sử dụng ngày nay là ê te tổng hợp hoặc cồn có chất béo có nguồn gốc từ dầu thực vật.
Bên cạnh đó, các loại dầu thực vật và dầu khoáng vẫn được sử dụng. Poly ê te được nghiên cứu và cho thấy có độ nhớt phù hợp với công nghệ MQL so với dầu khoáng và dầu thực vật thông thường. Cồn có chất béo là chất bôi trơn có khối lượng phân tử lớn nguồn gốc từ dầu thực vật và polyol ê te là những loại dầu được điều chế có khả năng bôi trơn cao, độ nhớt thấp và có nhiệt độ cháy và bay hơi phù hợp. Ê te tổng hợp có độ nhớt thấp, nhiệt độ cháy tương đối cao, tính ổn định nhiệt và tốc độ bay hơi thấp.
Loại dầu này có thể được điều chế với độ nhớt khác nhau nên được sử dụng phổ biến trong công nghệ MQL để giảm ma sát và mòn dụng cụ cắt, và không yêu cầu về làm nguội bằng dầu. Ngoài ra với đặc tính bay hơi chậm nên sẽ hình thành được màng mỏng trên chi tiết giúp chống ô xy hóa nhưng lại gây trở ngại cho quá trình rửa và lắp đặt chi tiết [46]. Trong MQL, dung dịch trơn nguội được đưa trực tiếp vào vùng cắt với một lượng tối thiểu nên hoạt tính của dung dịch ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của quá trình bôi trơn, làm nguội. Để nâng cao hiệu quả của quá trình bôi trơn, làm nguội và mở rộng khả năng ứng dụng của MQL, một trong các hướng đang được quan tâm nghiên cứu hiện nay là thay đổi thành phần, thêm các chất phụ gia,v.
Để nâng cao hoạt tính, khả năng bôi trơn của dung dịch. Một hướng nghiên cứu mới, có nhiều triển vọng và đang rất được quan tâm hiện nay đó là sử dụng các hạt nano kim loại có độ cứng và tính dẫn nhiệt cao trộn vào trong dung dịch (tạo thành dung dịch được gọi là dung dịch Nanofluid). Bôi trơn làm nguội tối thiểu sử dụng dung dịch Nanofluid Để tiếp tục nâng cao hiệu quả của quá trình BTLN và mở rộng khả năng ứng dụng của MQL có nhiều giải pháp. Trong đó, một xu hướng nghiên cứu mới đang rất được quan tâm đó là sử dụng dung dịch Nanofluid trong MQL.
Về thực chất, dung dịch Nanofluid là dùng hạt Nano kim loại có độ cứng cao (ví dụ hạt Nano Al2O3, MoS2, SiO2,v. có kích thước hạt dưới 30 nm [27]) trộn vào dung dịch trơn nguội để đưa vào vùng cắt. Hạt Nano trong dung dịch Nanofluid có tác dụng nâng cao khả năng dẫn nhiệt, nâng cao hoạt tính của dung dịch. Ngoài ra, các hạt Nano xâm nhập vào vùng cắt và đóng vai trò là các “viên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bi” do đó góp phần làm giảm ma sát trong vùng cắt.
Kết quả là nâng cao được tính năng bôi trơn làm nguội của dung dịch [25-27] nhờ vậy mà việc sử dụng dung dịch Nanofluid là đã mở rộng khả năng ứng dụng của MQL vào quá trình gia công các loại vật liệu cứng, vật liệu khó gia công,v. và cho một số phương pháp gia công có điều kiện cắt khắc nghiệt khác như mài,v. Hiệu quả của quá trình sử dụng dung dịch Nanofluid trong MQL khi gia công phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại hạt Nano (Al203, MoS2,v.); hình dáng, kích thước hạt; nồng độ hạt; loại dung dịch, chế độ gia công,v. Các loại hạt nano khác nhau có các đặc tính về hình dạng, cấu trúc, tính dẫn nhiệt, đặc tính lý hóa khác nhau, điều này ảnh hưởng tới đặc tính bôi trơn làm nguội của chúng.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của loại hạt hano khi mài sử dụng công nghệ MQL với vật liệu gia công là hợp kim Nikel GH4169 được đề cập trong [26]. Nghiên cứu đã chỉ ra khi gia công với công nghệ MQL có sử dụng hạt nano cho thấy hiệu quả bôi trơn làm nguội tốt hơn so với công nghệ tưới tràn. Cụ thể, chất lượng bề mặt được nâng cao và lực mài giảm nhiều khi gia công MQL có sử dụng hạt nano. Tác giả cũng chỉ ra loại hạt nano có hệ số ma sát trượt thấp có hiệu quả cao đến việc giảm lực mài, cải thiện chất lượng bề mặt.
Hầu hết những kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc ứng dụng dung dịch Nanofluid trong công nghệ MQL giúp nâng cao tính năng bôi trơn làm nguội của dung dịch cũng như mở rộng khả năng công nghệ gia công. Nhờ việc giảm lực cắt do giảm được hệ số ma sát đã nâng cao được tuổi bền của dụng cụ cắt cũng như cải thiện và duy trì được chất lượng bề mặt tốt, đó là những ưu điểm nổi bật của công nghệ MQL có sử dụng dung dịch Nanofluid. Bởi vậy, việc ứng dụng công nghệ này để gia công những vật liệu khó gia công là một xu hướng mới, đặc biệt là mở rộng khả năng công nghệ gia công vật liệu có độ bền, độ cứng cao. Giới thiệu về gia công vật liệu cứng 1.
Khái niệm về gia công vật liệu cứng Gia công vật liệu cứng (machining of hard material) nói chung là một quá trình gia công cắt gọt trên chi tiết có độ cứng HRC = 45÷70 với dụng cụ cắt có lưỡi cắt xác định [1]. Vật liệu gia công gồm: các loại thép hợp kim sau nhiệt luyện, thép dụng cụ, thép thấm carbon, hợp kim chịu nhiệt cao, thép thấm nitơ, và những chi tiết làm từ luyện kim bột đã qua nhiệt luyện,v. Để gia công vật liệu cứng, vật liệu khó gia công thì giải pháp truyền thống là gia công bằng hạt mài (chủ yếu là mài). Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, gia công vật liệu cứng bằng dụng cụ cắt có lưỡi cắt xác định đã được nghiên cứu và ứng dụng khá rộng rãi và đã lại mang lại những lợi ích rõ ràng [3, 4].
- Độ chính xác gia công, chất lượng bề mặt đạt được cao; - Nhiều nguyên công thực hiện đồng thời trên một lần gá đặt; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.